Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO SINH VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản Trước khi đi vào các nội dung của luận văn, tác giả trích dẫn và bàn luận một số khái niệm liên quan đến đề tài: giáo dục, chính trị, tư tưởng, giáo dục chính trị tư tưởng và một số vấn đề có liên quan. Khái niệm về giáo dục Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: “Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng”. Người chỉ rõ, giáo dục là nhằm tạo ra đội ngũ, lực lượng cho cách mạng.
Người thầy cũng là những người chiến sỹ trên mặt trận văn hóa, giáo dục: “trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy học là: chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Như vậy, sứ mệnh của người thầy, nhà trường hay công tác giáo dục là cực kỳ quan trọng và vẻ vang. Trong giáo trình “Giáo dục đại cương”, do tác giả Hà Thị Mai biên soạn năm 2012. Tác giả cho rằng: giáo dục, về bản chất, “là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của xã hội loài người”.
Theo đó, về mặt hoạt động, giáo dục là “quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách”. Nếu xét về mặt phạm vi, tác giả cho rằng, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khái niệm khác nhau. Tác giả đưa ra 4 cấp độ khái niệm để xem xét về giáo dục. Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được xem là “quá trình xã hội hóa con người”.
Đó là quá trình “hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động 15 chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân”. Xét ở góc độ thứ hai, thì giáo dục là “giáo dục xã hội”. Đây là “hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách”. Xét ở cấp độ thứ ba, tác giả cho rằng, “giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm”.
Quá trình này được thực hiện bởi lực lượng những “nhà sư phạm” và “bằng phương pháp sư phạm của mình” đã “tác động có kế hoạch, có nội dung” tới đối tượng giáo dục (học sinh) để hình thành nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách ở đối tượng giáo dục. Quá trình này bao gồm quá trình dạy học và “quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp”. Xét ở cấp độ thứ tư, tác giả cho rằng, giáo dục là “quá trình bồi dưỡng để hình thành phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, học tập và giao lưu”. Như vậy, giáo dục là một quá trình, một “chuỗi” những hoạt động có chủ đích của chủ thể (bao gồm nhà trường, gia đình và xã hội) đến đối tượng giáo dục (người học) nhằm chuyển hóa những nội dung tri thức, chuẩn mực xã hội để hình thành nên những nhân cách, nguồn nhân lực phù hợp với tồn tại xã hội.
Trong Giáo dục học Đại cương của các tác giả Nguyễn Văn Hộ và Hà Thị Đức, giáo dục được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, “giáo dục là quá trình toàn vẹn nhằm hình thành phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy trong lịch sử. Đó là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế 16 hoạch, có phương pháp” được tổ chức trong nhà trường thông qua quá trình sư phạm của các nhà giáo dục (nhà sư phạm). Theo nghĩa hẹp, “giáo dục là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách của cá nhân, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng – chính trị, đạo đức, lao động, thẩm mỹ và thể chất cho học sinh”.
Qua các khái niệm về giáo dục như trên, cho ta thấy giáo dục là một quá trình song hành cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, trong đó có sự vận động và phát triển về tư duy của con người. Giáo dục là cơ sở cho sự phát triển và để phát triển phải có giáo dục. Chính trị Khái niệm “Chính trị” cho đến nay vẫn là một thuật ngữ có nhiều “đáp án” bởi nó cũng như đời sống chính trị của nhân loại: đa dạng và phức tạp. Mặc dù là một phạm trù được đưa ra từ rất sớm nhưng cho đến nay thuật ngữ “chính trị” vẫn có rất nhiều cách lý giải khác nhau.
“Chính trị” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là “polis” do nhà triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle (384 – 322 TCN) nêu ra. Theo ông, “chính trị là hình thức cộng sinh văn minh, đảm bảo xã hội đạt phúc lợi chung và có cuộc sống hạnh phúc”. Tác giả Dương Xuân Ngọc cho rằng, chính trị “là các quan hệ giữa con người với nhau trong những lĩnh vực nhà nước, quan hệ giữa các quốc gia và giữa các dân tộc nhằm bảo vệ lợi ích của các tầng lớp, giai cấp, các dân tộc trong xã hội trên cơ sở tôn trọng và đảm bảo quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền”. Theo đó, chính trị là một phạm trù đề cập đến mối quan hệ giữa các giai cấp, quốc gia, dân tộc dựa trên các vấn đề về quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền.
17 Chính trị là một phạm trù dùng để chỉ về một hoạt động đặc biệt trong xã hội “hoạt động nhằm giành, giữ và sử dụng quyền lực” đồng thời nó lại phản ánh một loại quan hệ xã hội “quan hệ giữa người với nhau” trong việc “giành, giữ và sử dụng quyền lực” đó. Trong từ điển tiếng Việt (2010, Viện Ngôn ngữ), thì chính trị là “những hoạt động của một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy Nhà nước”. Chính trị theo nghĩa này là những hoạt động nhằm chiếm lĩnh quyền lực nhà nước. Như vậy, chính trị xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp đạt đến giai đoạn nhà nước sinh ra để điều tiết các mâu thuẫn này.
Theo đó, chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia và dân tộc; đồng thời nó là các hoạt động của các thiết chế chính trị nhằm giành, giữ và sử dụng quyền được chi phối của giai cấp cầm quyền trong xã hội (nhà nước). Chủ nghĩa Mác - Lênin có đề cập đến một hình thái xã hội tiên tiến nhất trong lịch sử, đó là xã hội cộng sản, theo đó thì nhà nước sẽ tiêu vong. Tuy nhiên nếu hiểu theo nghĩa “trần trụi” (nghĩa là không còn nhà nước trong xã hội cộng sản) là một sai lầm bởi nhà nước vẫn tồn tại ở mô hình xã hội này và nó (nhà nước) với sứ mệnh là phục vụ, đảm bảo an sinh xã hội, tổ chức xã hội, sử dụng “quyền lực mềm” để quản lý xã hội trong điều kiện dân chủ, văn minh và công bằng. Với điều kiện xã hội như vậy thì chính trị cũng sẽ không mất đi.
Nó vẫn hiện diện để đảm bảo quyền của con người được đảm bảo trong điều kiện không còn mô hình nhà nước điều tiết mâu thuẫn giai cấp nữa. Khi đó, nhà nước là nhà nước “của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”; đảm bảo vị thế trung tâm điều tiết vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” và do đó khái niệm “chính trị” như triết gia Aristotle phát kiến hàng ngàn năm nay vẫn mang tính thời sự và nguyên bản 18 “chính trị là hình thức cộng sinh văn minh, đảm bảo xã hội đạt phúc lợi chung và có cuộc sống hạnh phúc”. Tư tưởng Thuật ngữ “tư tưởng” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là “Idéa” (nghĩa từ “Idea” trong từ điển tiếng Anh là tư tưởng, ý niệm…). Trong từ điển “Triết học giản yếu” năm 1987 thì tư tưởng “là hình thức phản ánh thế giới bên ngoài, trong đó bao hàm sự ý thức về mục đích và triển vọng của việc tiếp thu nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài”.
Trong “Từ điển tiếng Việt” (năm 1994), khái niệm “tư tưởng” là “quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan, đối với xã hội”. Nhà lý luận người Mỹ, L.Sadgient, có quan điểm cho rằng: “khi xây dựng các mục đích và các giá trị xác định cho sự phát triển chính trị, các nhà chính trị (chóp bu) xây dựng nên một hệ thống quan điểm thể hiện quan điểm, đời sống chính trị của đảng phái mình, nó giúp cho phương hướng, đường lối chính trị của các nhà chính trị cầm quyền và nhờ đó mà hệ tư tưởng đồng thời cũng đơn giản hóa việc giải quyết những vấn đề chính trị”. Chính trị với bản chất là công việc, là chiến lược, sách lược nhằm đảm bảo lợi ích và quyền lực của giai cấp cầm quyền thì tư tưởng là một công cụ quan trọng để gia tăng sự đồng thuận, giảm thiểu sự bất đồng về quan điểm trong các sách lược ấy. Tư tưởng là một mặt trận quan trọng của chính trị.
Nó là “sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức, hiểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp và của xã hội” Tư tưởng là vấn đề định hướng, khơi nguồn, cảm hóa, giác ngộ… Là nền tảng công tác xây dựng, định hình nhận thức của đối tượng giáo dục. Suy cho cùng nó là mục tiêu của giáo dục (có nghĩa là giáo dục nhằm hiện thực hóa, truyền bá tư tưởng của giai cấp cầm quyền). 19 Tư tưởng không thể được hình thành trong “một sớm một chiều” và cũng không thể nhanh chóng mất đi. Nó có “tính kiên định và sự hình thành chậm chạp”.
Bởi thế cho nên, “đặc điểm của tư tưởng là áp đặt một hình thức tuyệt đối và không có bất cứ sự phản đối nào chạm tới được. Khi tư tưởng đã dần chuyển đổi thành ý thức và trở thành giáo điều, chiến thắng của nó đã được đảm bảo trong thời gian dài và mọi lý luận nó đều vô ích”. Đó là sức mạnh của “vũ khí – tư tưởng”. Như vậy, người có “tư tưởng vững vàng” là người kiên định với lập trường mà mình đã chọn.