Tổng quan luận án

Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Sư phạm – Tâm lý với đề tài "Giảng văn ở trường phổ thông trung học (Lịch sử và triển vọng)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Ân thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Trần Thanh Đạm. Luận án thuộc chuyên ngành Phương pháp giảng dạy Văn học, mã số 5-07-02.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giảng văn là một phân môn then chốt trong chương trình giáo dục phổ thông, giữ vị trí đặc biệt trong việc bồi dưỡng tri thức, rung động thẩm mỹ và hình thành nhân cách cho học sinh. Tuy nhiên, việc đánh giá thực trạng giáo dục phổ thông qua nhiều giai đoạn cho thấy sự giảm sút về chất lượng dạy học văn. Môn học từng trải qua giai đoạn trì trệ, xơ cứng do ảnh hưởng của quan điểm dạy học áp đặt, chủ quan duy ý chí, biến giờ học văn thành lối truyền thụ "theo điệu sáo" và đồng nhất văn chương một cách cơ học với tư tưởng, chính trị, đạo đức hoặc lịch sử.

Khi bước vào thời kỳ đổi mới và triển khai Cải cách giáo dục (CCGD) sau Đại hội VI của Đảng, không khí dân chủ hóa và việc tiếp cận tri thức khoa học đa ngành đã từng bước loại bỏ lối tư duy áp đặt, tiếp nhận thông tin một chiều. Dù vậy, thực tiễn dạy học lại nảy sinh khuynh hướng tả khuynh ấu trĩ là phủ nhận sạch trơn các kinh nghiệm giảng dạy truyền thống. Yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học gặp phải mâu thuẫn giữa quyết tâm đổi mới mạnh mẽ với sự lúng túng, bị động, khiên cưỡng trong định hướng phương pháp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Cho đến thời điểm năm 1995, chưa có một công trình chuyên luận nào nghiên cứu sâu và có hệ thống về toàn bộ lịch sử phát triển của môn giảng văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam theo hướng tiếp cận lịch sử quan niệm. Việc thiếu vắng một công trình tổng kết lý luận và thực tiễn dẫn đến các cuộc tranh luận về đổi mới phương pháp giảng văn thường rơi vào mâu thuẫn hoặc nhầm lẫn do thiếu cơ sở khái quát khoa học.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các quan niệm, quan điểm về môn giảng văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
  2. Lý giải cơ sở khoa học và thực tiễn của khoa học giảng văn được các nhà sư phạm, nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam xây dựng qua nửa thế kỷ.
  3. Đề xuất các phương hướng và bài học kinh nghiệm nhằm cải tiến, hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy học giảng văn ở bậc phổ thông trung học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản chất, chức năng, hệ thống quan điểm và phương pháp dạy học môn giảng văn qua các giai đoạn lịch sử của giáo dục Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát tiến trình phát triển của môn giảng văn trong trường phổ thông trung học Việt Nam từ thời kỳ phong kiến (khảo sát điểm lại có tính hệ thống), thời kỳ nhà trường Pháp - Việt, đến thời kỳ nhà trường mới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và giai đoạn đổi mới giáo dục đến năm 1995. Trọng tâm nghiên cứu đi sâu vào hai thời kỳ sau.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận và khảo cứu toàn diện hệ thống các tài liệu, công trình nghiên cứu chuyên luận về giảng văn và phương pháp dạy học văn học xuất hiện qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám (thời kỳ Pháp - Việt): Khảo cứu cuốn giáo khoa bằng tiếng Việt đầu tiên đặt nền móng cho kỹ thuật giảng văn là Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm (1928), vận dụng phương pháp bình giảng của nhà trường phương Tây (Explication de Textes).
  • Giai đoạn 1945 - 1954: Các công trình mở đầu việc định hình giảng văn trong nền giáo dục mới gồm Giảng văn Chinh phụ ngâm của Đặng Thai Mai (1950) và bộ sách giáo khoa Việt Nam thi văn giảng luận của Hà Như Chi (1951).
  • Giai đoạn 1954 - 1975: Hệ thống các giáo trình đại học sư phạm và chuyên luận chuyên ngành:
    • Giáo trình Phương pháp giảng dạy văn học (Đại học Sư phạm, 1963);
    • Mấy vấn đề giảng văn trong nhà trường của Tạ Phong Châu;
    • Tu từ học với vấn đề giảng văn của Đinh Trọng Lạc (1969);
    • Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học của Phan Trọng Luận (1969);
    • Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể của tập thể tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn (1970);
    • Những vấn đề nghiên cứu khoa học về giảng văn của Trần Thanh Đạm (1971);
    • Bài nói chỉ đạo Dạy Văn là một quá trình rèn luyện toàn diện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1973);
    • Tham luận Về dạy văn trong nhà trường của Đặng Thai Mai (1974);
    • Công trình Văn học phân tích toàn thư của Thạch Trung Giả (1973).
  • Nguồn tài liệu sư phạm nước ngoài: Các công trình lý luận dạy học, tâm lý học và phương pháp dạy văn của các học giả Liên Xô được tiếp thu như B. Exipop (Những cơ sở lý luận dạy học), N. (Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm), Timôfiép (Nguyên lý lý luận văn học), cùng các chuyên luận của Nhikiphôrova, Maiamin, Maranxman, Cupriasep, Secbina.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên tập hợp, phân tích và hệ thống hóa toàn bộ tiến trình lịch sử quan niệm về giảng văn ở Việt Nam, tạo cơ sở lý luận cho việc đổi mới phương pháp dạy học môn văn trong nhà trường phổ thông và phục vụ giảng dạy bộ môn phương pháp dạy văn tại các trường đại học sư phạm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt sự hình thành, biến đổi của quan niệm giảng văn trong mối liên hệ trực tiếp với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của từng thời kỳ lịch sử theo nguyên lý "Chế độ nào, nhà trường ấy".
  • Lý thuyết văn học và mỹ học tiếp nhận: Tiếp cận tác phẩm văn học như một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, kỹ thuật và tư tưởng; nhìn nhận mối quan hệ giữa quy luật sáng tạo nghệ thuật và quy luật cảm thụ, tiếp nhận của người đọc - học sinh.
  • Lý luận dạy học và tâm lý học sư phạm: Xây dựng khung cấu trúc quá trình dạy học giảng văn dựa trên mối liên hệ tương tác giữa ba yếu tố: Chủ thể giáo dục (giáo viên), Công cụ giáo dục (tác phẩm văn học) và Đối tượng giáo dục (học sinh).

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp khảo cứu, phân tích tài liệu: Thu thập, phân tích và xử lý các nguồn tư liệu văn bản gồm sách giáo khoa, giáo trình đại học, các chuyên luận khoa học, văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục, kỷ yếu hội nghị và tài liệu bồi dưỡng giáo viên qua từng thời kỳ.
  2. Phương pháp hệ thống: Xem xét môn giảng văn trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống các bộ môn khoa học trong nhà trường và trong chỉnh thể bộ môn Ngữ văn (ngữ pháp, làm văn, văn học sử, giảng văn).
  3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các mô hình, quy trình, quan điểm tiếp cận văn học giữa các thời kỳ (phong kiến, Pháp - Việt, hiện đại) và giữa các tác giả nghiên cứu để chỉ ra bước phát triển, tính kế thừa và những điểm cần cách tân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Quá trình phát triển của giảng văn ở trường phổ thông trung học Việt Nam

Chương I tập trung khảo cứu tiến trình lịch sử giảng dạy văn học trong nhà trường Việt Nam qua ba thời kỳ chính, phân tích các đặc trưng quan niệm, mô hình giảng dạy và các công trình tiêu biểu của từng giai đoạn.

1. Thời kỳ nhà trường phong kiến

Nền giáo dục phong kiến Việt Nam kéo dài gần mười thế kỷ, gắn liền với việc tiếp thu và vận dụng Nho giáo từ các mốc lịch sử: xây dựng Văn Miếu (1070), mở Quốc Tử Giám (1076), lập Quốc Học Viện (1253), mở rộng hệ thống trường lộ phủ thời Hậu Lê và thành lập Thái Học Viện (1483). Đến thời Nguyễn, hệ thống trường học được chia thành ba cấp: Tiểu tập, Trung tập và Đại tập.

  • Đặc điểm quan niệm: Văn chương giữ vai trò phương tiện truyền bá ý thức hệ chính thống Khổng - Mạnh theo các nguyên lý "văn sử bất phân", "văn triết bất phân", "văn dĩ tải đạo". Nội dung học tập lấy Tứ thư, Ngũ kinh, Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi làm khuôn mẫu tư tưởng.
  • Phương pháp giảng dạy: Dựa trên nguyên tắc quyền uy tuyệt đối của thánh hiền và thầy dạy. Phương pháp học tập chủ yếu là "nghe thầy giảng - học thuộc lòng - nhớ suốt đời", hạn chế năng lực tư duy độc lập và tính sáng tạo của người học.
  • Ba hình thức dạy học văn truyền thống:
    1. Lối giảng sách: Thầy giảng giải từng câu, từng chữ trong kinh truyện; trò học thuộc lòng toàn bộ lời kinh và chú giải.
    2. Lối làm văn: Rèn luyện trí nhớ và kỹ thuật viết theo các thể thức quy định chặt chẽ (câu đối, bài luận, văn sách, thơ cổ phong, Đường luật, phú, tứ lục).
    3. Lối bình văn, bình thơ: Hình thức cảm thụ truyền thống khởi đầu bằng việc đọc diễn cảm, ngân nga giọng điệu bài văn/thơ để thưởng thức, sau đó đưa ra các lời bình giải sâu sắc về cái hay của ngôn từ và hình tượng.

2. Thời kỳ nhà trường Pháp - Việt

Nhà trường Pháp - Việt hình thành hệ thống học chế từ ấu học, tiểu học, cao đẳng tiểu học đến trung học (tú tài bản xứ). Môn văn trở thành môn học có tính khoa học và phương pháp rõ rệt hơn, kết hợp giữa giảng văn, ngữ pháp và làm văn, dù tiếng Việt bị xếp vào vị trí thứ yếu (2 giờ/tuần).

  • Chương trình và yêu cầu giảng dạy:
    • Bậc tiểu học và cao đẳng tiểu học: Chú trọng phát âm, đọc diễn cảm, phân tích ngữ pháp, tìm hiểu bố cục, đại ý bài trích giảng của các tác giả cổ điển Pháp; rèn luyện óc quan sát và năng lực phê phán.
    • Bậc trung học: Nội dung sắp xếp theo tiến trình văn học sử và phân chia theo loại thể (anh hùng ca, văn nghệ thuật, nghị luận, kịch, lý luận văn học); kết cấu chương trình theo hướng đồng tâm; được hỗ trợ bởi các môn triết học, logic học và phương pháp luận.
  • Công trình đặt nền móng: Cuốn Quốc văn trích diễm (1928) của Dương Quảng Hàm là tài liệu giáo khoa đầu tiên bằng tiếng Việt định hình môn giảng văn dựa trên phương pháp "bình giảng Âu-Tây" (Explication de Textes).
  • Cấu trúc bài giảng văn của Dương Quảng Hàm gồm 4 bước:
    1. Giới thiệu tiểu sử tác giả;
    2. Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm;
    3. Tìm xuất xứ và đại ý;
    4. Giảng nghĩa "ý tưởng" cùng "lời văn" của tác phẩm.

3. Thời kỳ nhà trường mới sau Cách mạng tháng Tám

Từ năm 1945, nền giáo dục dân chủ ra đời, chấm dứt việc dùng tiếng nước ngoài và xác lập việc dạy học hoàn toàn bằng tiếng Việt trên nguyên tắc Dân tộc - Khoa học - Đại chúng. Quá trình phát triển được phân tích qua hai giai đoạn:

a) Giai đoạn 1945 - 1954

Giảng văn chuyển đổi bản chất, gắn liền với nhiệm vụ chính trị cách mạng và phục vụ kháng chiến. Hai công trình tiêu biểu:

  • Giảng văn Chinh phụ ngâm (Đặng Thai Mai, 1950): Đưa ra định nghĩa khoa học đầu tiên về giảng văn: giảng văn là theo dõi trong nếp (pli) áng văn để chỉ ra sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, kỹ thuật và tư tưởng. Tác giả nhấn mạnh mục đích giảng văn là bồi dưỡng hứng thú văn chương và "kiến thiết học thuật và tư tưởng", xác định quy luật cảm thụ là tìm ra "trọng tâm hứng thú" (le centre d'intérêt), vận dụng các khái niệm "lập trường luận lý" và "lập trường tình cảm".
  • Việt Nam thi văn giảng luận (Hà Như Chi, 1951): Đặt vấn đề học văn bằng lý trí, phân tích theo quy củ khoa học thay vì chỉ thưởng thức ngâm nga thuần túy. Tác giả xây dựng kết cấu bài giảng văn gồm: Nêu xuất xứ $\rightarrow$ Nêu đại ý - bố cục $\rightarrow$ Giảng giải $\rightarrow$ Phê bình.
b) Giai đoạn 1954 - 1975

Giai đoạn tiến hành Cải cách giáo dục lần 2 (1956), thành lập Trường Đại học Sư phạm và xuất bản giáo trình Phương pháp giảng dạy văn học (1963). Các hội nghị chuyên đề lớn được tổ chức: "Giảng dạy văn học gắn liền với đời sống" (Sầm Sơn, 1961), "Giảng dạy văn học sử" (Hà Nội, 1963), "Giảng dạy giảng văn" (Hải Phòng, 1972).

Các công trình nghiên cứu chuyên ngành và quan điểm tiêu biểu:

  • Tu từ học với vấn đề giảng văn (Đinh Trọng Lạc, 1969): Vận dụng tri thức tu từ học để khắc phục lối giảng văn tùy tiện, "tán văn"; đồng thời cảnh báo hiện tượng máy móc khi tuyệt đối hóa các "từ đắt", "từ thần".
  • Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học (Phan Trọng Luận, 1969): Xác định mối quan hệ giữa tư duy logic và tư duy hình tượng trong giảng văn; nêu các nguyên tắc "tạo hứng thú học tập", "công khai hóa quá trình lĩnh hội" và "cá thể hóa việc học tập".
  • Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (Trần Thanh Đạm và tập thể tác giả, 1970): Phân loại thể loại theo nguyên lý mô phỏng của Aristote (tự sự, trữ tình, kịch); xác định quy luật tiếp nhận tác phẩm theo hai chiều: theo chặng (phase) và theo lớp (couche); đề cao vai trò của kỹ thuật đọc văn.
  • Những vấn đề nghiên cứu khoa học về giảng văn (Trần Thanh Đạm, 1971): Xác định giảng văn nằm ở chỗ giáp ranh giữa khoa học giáo dục và khoa học ngữ văn; phân biệt việc phân tích tác phẩm và giảng dạy tác phẩm; xây dựng cấu trúc dạy học gồm ba yếu tố (thầy giáo, tác phẩm, học sinh); đề xuất quy trình dạy học 5 bước: Đọc - Hỏi - Giảng - Tập - Thuộc.
  • Bài phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (08-09-1973): Phê phán lối dạy văn "theo điệu sáo", "múa chữ"; yêu cầu đổi mới toàn diện mục đích - nội dung - phương pháp dạy văn theo hướng phát huy tính năng động sáng tạo của học sinh.
  • Tham luận Về dạy văn trong nhà trường của Đặng Thai Mai (20-03-1974): Nhấn mạnh nguyên tắc "đào tạo thầy giáo là điều căn bản"; khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa dạy tiếng và dạy văn, yêu cầu gắn giảng văn với phân tích ngữ nghĩa, ngữ pháp và tu từ.
  • Văn học phân tích toàn thư (Thạch Trung Giả, 1973): Kết hợp trực giác và lý luận trong phân tích văn học; chia nghệ thuật thành cấu tứ và hành văn; đề xuất các nguyên tắc: bám sát văn bản, đặt trong bối cảnh lịch sử, tôn trọng tính toàn vẹn và giữ thái độ khách quan "cực tĩnh thái hư".

Bảng tổng hợp các công trình nghiên cứu giảng văn tiêu biểu (1928 - 1974)

Năm Tác giả Tên công trình / Tài liệu Đóng góp chính về quan niệm và phương pháp
1928 Dương Quảng Hàm Quốc văn trích diễm Áp dụng mô hình Explication de Textes gồm 4 bước: Tiểu sử, Hoàn cảnh, Xuất xứ - Đại ý, Giảng nghĩa ý tưởng và lời văn.
1950 Đặng Thai Mai Giảng văn Chinh phụ ngâm Định nghĩa giảng văn là tìm sự thống nhất nội dung - hình thức; xác định "trọng tâm hứng thú" (le centre d'intérêt).
1951 Hà Như Chi Việt Nam thi văn giảng luận Đề cao tiếp cận bằng lý trí; xây dựng cấu trúc: Xuất xứ, Đại ý - bố cục, Giảng giải, Phê bình.
1969 Đinh Trọng Lạc Tu từ học với vấn đề giảng văn Vận dụng tu từ học vào phân tích văn bản nghệ thuật; cảnh báo khuynh hướng hình thức "bám từ".
1969 Phan Trọng Luận Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học Kết hợp tư duy logic và tư duy hình tượng; đề xuất các nguyên tắc tạo hứng thú và cá thể hóa học tập.
1970 Trần Thanh Đạm và tgk Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể Dạy học theo ba loại thể (tự sự, trữ tình, kịch); tiếp cận hình tượng theo chặng (phase) và theo lớp (couche).
1971 Trần Thanh Đạm Những vấn đề nghiên cứu khoa học về giảng văn Xác định bản chất liên ngành; mô hình hóa 3 yếu tố (thầy - tác phẩm - trò); đề xuất quy trình Đọc - Hỏi - Giảng - Tập - Thuộc.
1973 Phạm Văn Đồng Dạy Văn là một quá trình rèn luyện toàn diện Phê phán lối dạy "điệu sáo", "múa chữ"; định hướng phương pháp phức hợp, giáo dục toàn diện nhân cách.
1973 Thạch Trung Giả Văn học phân tích toàn thư Kết hợp trực giác và lý luận; phân tích cấu tứ và hành văn; nêu nguyên tắc khách quan "cực tĩnh thái hư".
1974 Đặng Thai Mai Về dạy văn trong nhà trường Đề cao khâu đào tạo giáo viên; xác lập mối quan hệ bản chất giữa dạy tiếng Việt và dạy văn chương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Tổng kết hệ thống lịch sử quan niệm: Luận án là công trình đầu tiên phục dựng và hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, biến đổi của các quan điểm về giảng văn tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (phong kiến, Pháp - Việt, hiện đại).
  2. Xác lập cơ sở phương pháp luận khoa học: Luận án phân tích rõ tính chất liên ngành của môn giảng văn, nằm ở vị trí giao thoa giữa khoa học ngữ văn (ngôn ngữ học, lý luận văn học, mỹ học tiếp nhận, thi pháp học) và khoa học giáo dục (giáo dục học, tâm lý học lứa tuổi).
  3. Đánh giá khách quan tính kế thừa: Luận án chỉ ra các giá trị hợp lý cần kế thừa từ truyền thống (lối bình văn, kỹ thuật đọc văn, kỹ thuật phân tích văn bản của phương Tây) và phê phán các khuynh hướng sai lệch như lối dạy áp đặt, chủ quan duy ý chí, khuynh hướng dạy văn "theo điệu sáo" hoặc bệnh tả khuynh ấu trĩ phủ nhận kinh nghiệm lịch sử.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp tư liệu cho giáo viên phổ thông: Cung cấp hệ thống tư liệu khoa học, giúp giáo viên trung học phổ thông nắm vững bản chất, quy trình và kỹ thuật giảng dạy tác phẩm văn chương theo đặc trưng loại thể.
  2. Hoàn thiện chương trình đào tạo sư phạm: Bổ khuyết khoảng trống về lịch sử môn học trong các giáo trình phương pháp dạy học ngữ văn tại các trường đại học sư phạm, giúp sinh viên chuyên ngành ngữ văn hiểu sâu sắc tiến trình phát triển của khoa học giảng văn.
  3. Định hướng giải pháp cải tiến: Đề xuất sự kết hợp đồng bộ giữa việc dạy tiếng và dạy văn, coi tác phẩm văn chương là trung tâm để phát triển tư duy độc lập, năng lực cảm thụ thẩm mỹ và kỹ năng diễn đạt cho học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào hướng tiếp cận lịch sử quan niệm và tổng kết tư liệu lý luận; việc nghiên cứu và khảo sát thực nghiệm các phương pháp dạy học cụ thể trên lớp học phổ thông chỉ dừng lại ở mức độ kết hợp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần tiếp tục triển khai các nghiên cứu thực nghiệm sư phạm chuyên sâu về các mô hình dạy học giảng văn đổi mới, kiểm chứng các quy trình dạy học theo loại thể và ứng dụng thành tựu của mỹ học tiếp nhận hiện đại vào từng khối lớp ở trường trung học phổ thông.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo nền tảng về lịch sử phương pháp dạy học văn học tại Việt Nam, cung cấp hệ thống thư mục và phân tích chuyên sâu các công trình nghiên cứu từ năm 1928 đến năm 1995.
  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn: Cung cấp khung lý thuyết về các mô hình giảng văn, cấu trúc quá trình dạy học tác phẩm văn chương và kỹ thuật phân tích văn bản theo đặc trưng loại thể.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục và nhà biên soạn chương trình: Cung cấp bài học lịch sử về việc cải cách chương trình, thay sách giáo khoa và xây dựng phương pháp giảng dạy nhằm tránh các khuynh hướng cực đoan (áp đặt duy ý chí hoặc phủ định truyền thống).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cấu trúc một bài giảng văn theo mô hình của Dương Quảng Hàm (1928) gồm những bước nào?

Trong công trình Quốc văn trích diễm (1928), Dương Quảng Hàm đã phỏng theo kỹ thuật bình giảng của nhà trường phương Tây (Explication de Textes) để xây dựng quy trình giảng văn gồm 4 bước: (1) Giới thiệu tiểu sử tác giả; (2) Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm; (3) Tìm xuất xứ và đại ý; (4) Giảng nghĩa "ý tưởng" cùng "lời văn" của tác phẩm.

2. Tác giả Đặng Thai Mai đã đưa ra định nghĩa và quan điểm cốt lõi nào về môn giảng văn vào năm 1950?

Trong cuốn Giảng văn Chinh phụ ngâm (1950), Đặng Thai Mai định nghĩa: Giảng văn trước hết là theo dõi trong nếp (pli) áng văn để chỉ rõ sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, giữa kỹ thuật và tư tưởng của tác giả. Mục đích của giảng văn là bồi dưỡng hứng thú văn chương và "kiến thiết học thuật và tư tưởng". Quy luật cốt lõi của cảm thụ là xác định được "trọng tâm hứng thú" (le centre d'intérêt) của tác phẩm.

3. Mô hình cấu trúc quá trình dạy học giảng văn do PGS. Trần Thanh Đạm xác lập năm 1971 gồm những yếu tố nào?

PGS. Trần Thanh Đạm xác lập cấu trúc quá trình dạy học giảng văn gồm ba yếu tố gắn kết: Chủ thể giáo dục (thầy giáo), Công cụ giáo dục (tác phẩm văn học) và Đối tượng giáo dục (học sinh). Bản chất của giảng văn là hoạt động liên ngành nằm ở chỗ giáp ranh giữa khoa học giáo dục và khoa học ngữ văn. Quy trình dạy học giảng văn cụ thể được đề xuất gồm 5 khâu: Đọc - Hỏi - Giảng - Tập - Thuộc.

4. Lối dạy học văn thời phong kiến có những hình thức cơ bản nào và hạn chế phương pháp luận là gì?

Thời phong kiến có 3 hình thức dạy học văn chính: Lối giảng sách, Lối làm văn và Lối bình văn/bình thơ. Hạn chế phương pháp luận cơ bản là vận hành dựa trên nguyên tắc quyền uy tuyệt đối của thánh hiền và thầy dạy, áp dụng phương pháp "nghe thầy giảng - học thuộc lòng - nhớ suốt đời", làm triệt tiêu khả năng suy nghĩ độc lập và tính sáng tạo của người học.

5. Công trình "Văn học phân tích toàn thư" của Thạch Trung Giả (1973) nêu những nguyên tắc nào khi phân tích tác phẩm?

Thạch Trung Giả nêu 4 nguyên tắc then chốt: (1) Bám sát văn bản để tìm tình ý sâu xa ẩn sau lời văn, tránh nhại văn xuôi hoặc tán thán mơ hồ; (2) Đặt tác phẩm vào đúng bối cảnh lịch sử của thời đại ra đời; (3) Xem xét tác phẩm trong tính toàn vẹn, kết hợp văn học với ngôn ngữ và các khoa học liên quan; (4) Giữ thái độ khách quan, tâm thế "cực tĩnh thái hư", gạt bỏ mọi định kiến chủ quan khi tiếp cận văn bản.


Kết luận

Luận án "Giảng văn ở trường phổ thông trung học (Lịch sử và triển vọng)" của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Ân là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử quan niệm dạy học văn tại Việt Nam. Luận án đã tái hiện có hệ thống các chặng đường phát triển của môn giảng văn từ thời phong kiến, thời kỳ Pháp - Việt đến thời kỳ xây dựng nền giáo dục mới sau Cách mạng tháng Tám và giai đoạn đổi mới. Bằng việc phân tích sâu sắc các công trình lý luận tiêu biểu và đúc kết các quy luật dạy học đặc thù, luận án đã xác lập cơ sở khoa học - thực tiễn vững chắc, đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo giáo viên ngữ văn và định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy văn học trong trường phổ thông trung học.