Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ NGUYỄN VĂN LINH TỈNH HƯNG YÊN 1. Khái lược về triết học Mác-Lênin và việc giảng dạy nó trong các trường chính trị ở nước ta hiện nay 1. Khái lược về triết học Mác-Lênin Chúng ta vẫn thường quan niệm Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy [32 tr. Trong hệ thống các trường phái, trào lưu triết học trong lịch sử nhân loại, triết học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy- thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để nhận thức và cải tạo thế giới[63, tr.
Các nhà nghiên cứu đánh giá rằng, “với tư cách là chủ nghĩa duy vật, triết học Mác-Lênin là hình thức cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học - chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với tư cách là phép biện chứng, triết học Mác-Lênin là hình thức cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học- phép biện chứng duy vật” [63, tr. Triết học Mác – Lênin có những đặc trưng cơ bản: Một là, tính trừu tượng hoá và tính khái quát hoá cao Các hình thức biểu hiện của triết học Mác - Lêninnhư khái niệm, phạm trù, các nguyên lý, qui luật.v đều là sản phẩm của quá trình trừu tượng hoá cao, khái quát hoá cao của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Với sức mạnh của sự trừu tượng hoá, khái quát hoá, triết học Mác - Lênin trên cơ sở nắm bắt được những mối liên hệ khách quan, bản chất mà phát hiện những quy luật vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng, đem 10 lại cho con người “hình ảnh chân thật của đối tượng” nhờ đó mà con người có thể cải tạo thế giới theo yêu cầu và mục đích của mình.
Với đặc trưng này, triết học Mác - Lênin là hệ thống tri thức đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính quy luật của các mối liên hệ tất yếu trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Đó là một hệ thống tri thức lý luận khoa học, đúng đắn cả trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống lý luận này trở thành kim chỉ nam cho con người nhận thức và cải tạo thế giới. Hai là, tính hệ thống, lôgic, chính xác và chặt chẽ Triết học Mác - Lênin là một hệ thống tri thức có mối liên hệ bên trong chặt chẽ.
Mỗi khái niệm, phạm trù, nguyên lý phản ánh những khía cạnh khác nhau của sự vật, hiện tượng nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, mang lại cho con người những tri thức về sự vật hiện tượng trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó, giúp con người có được cái nhìn toàn diện, chính xác về sự vật, hiện tượng. Triết học Mác - Lênin đem lại cho con người một bức tranh chân thật về hiện thực khách quan, tránh mọi “ảo tưởng” mù quáng, mê hoặc, xuyên tạc sự thật, gạt bỏ thần bí siêu tự nhiên. Triết học Mác - Lênin là một hệ thốngmang tính chỉnh thể, toàn vẹn, thống nhất, với khả năng phản ánh chính xác sự vật, hiện tượng như nó đó tồn tại, vận động và phát triển. Trên cơ sở đó có thể dự báo được xu hướng vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Triết học Mác - Lênin là hệ thống lý luận điển hình về tính chính xác và logic chặt chẽ, có tác dụng tích cực đối với hoạt động thực tiễn của con người, làm cho “trí tuệ” con người tìm thấy nhiều điều kỳ diệu trong thế giới khách quan, do đó làm tăng thêm sự hiểu biết của mình đối với giới tự nhiên. Với đặc trưng này đòi hỏi việc giảng dạy triết học Mác - Lênin không được tuỳ tiện, hời hợt, đơn giản, không thể là sự tuỳ tiện chắp vá, cắt xén một cách cơ học những khái niệm, phạm trù, nguyên lý và qui luật cơ bản của triết học Mác-Lênin. 11 Ba là, tính gắn bó, liên hệ, thống nhất với thực tiễn Thống nhất lý luận với thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận Mác- Lênin nói chung và của triết học Mác - Lênin nói riêng. Hồ Chí Minh đã khẳng định “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” [54, tr 496].
Theo Hồ Chí Minh, lý luận sẽ là lý luận suông, lạc hậu, giản đơn, không có tính khoa học nếu xa rời thực tiễn. Thực tiễn sẽ trở thành mù quáng, tự phát nếu không có lý luận soi ðýờng. Lý luận Mác - Lênin là sự khái quát thực tiễn cách mạng và lịch sử xã hội, là sự đúc kết những kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực khác nhau. Sức mạnh của nó chính là ở chỗ gắn bó hữu cơ với thực tiễn xã hội, được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội của giai cấp công nhân.
Bốn là, thống nhất giữa tính khoa học và tính giai cấp Triết học Mác - Lênin bao hàm trong nó đặc trưng thống nhất giữa tính khoa học và tính giai cấp. Tính khoa học của triết học Mác - Lênin thể hiện ở chỗ nó phản ánh đúng theo quy luật khách quan của sự vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Tính giai cấp của triết học Mác - Lênin thể hiện ở chỗ nó là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, phản ánh khách quan nhu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với nhu cầu, lợi ích của toàn nhân loại tiến bộ.
Do vậy, tính giai cấp của triết học Mác - Lênin luôn luôn thống nhất với tính khoa học. Năm là, tính sáng tạo và tính phát triển Thực tiễn cho thấy lý luận Mác – Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng là một hệ thống mở và luôn bao hàm trong nó tính sáng tạo và tính phát triển. Chính vì triết học Mác - Lênin mang tính sáng tạo nên nó luôn phát triển. Nó luôn được bổ sung, phát triển bằng sự sáng tạo bởi các nhà lý luận mácxít chân chính.
Tính sáng tạo của triết học Mác - Lênin luôn có cơ sở từ 12 tổng kết thực tiễn trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân. Hơn nữa, nó còn có cơ sở là những thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn. Sự phát triển của triết học Mác – Lênin cũng có cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học. Chính vì sáng tạo mà triết học Mác - Lênin mới có điều kiện phát triển và ngược lại sự phát triển của triết học Mác - Lênin đòi hỏi cần phải có sự sáng tạo.
Hiện nay, lý luận Mác – Lênin cũng như triết học Mác-Lênin luôn luôn được các đảng cộng sản vận dụng và phát triển, sáng tạo trong điều kiện mới. Ngoài những đặc trưng cơ bản trên triết học Mác - Lênin còn có một số đặc trưng khác như tính kế thừa, là hệ thống mở có thể bổ sung và phát triển. Trong triết học Mác-Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật.
Sự thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người. Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động và phát triển của hiện thực, do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự diễn tả quan niệm về thế giới, lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận. Như vậy, trong triết học mácxít, thế giới quan và phương pháp luận thống nhất với nhau một cách hữu cơ.
Nắm vững triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan khoa học mà còn là xác định một phương pháp luận đúng đắn [32, tr. Trong thời đại ngày nay, triết học Mác-Lênin đang đứng ở đỉnh cao của tư duy triết học nhân loại. Với tư cách là học thuyết về sự phát triển thế giới, 13 triết học Mác-Lênin đã và đang tiếp tục phát triển trong dòng chảy của văn minh nhân loại. Vai trò của triết học Mác-Lênin trong đời sống xã hội Triết học Mác-Lênin là công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ.
Trước hết, triết học Mác-Lênin có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những nhiệm vụ cấp thiết của đời sống xã hội Việt Nam.Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vai trò của triết học Mác-Lênin ngày càng được nâng cao. Điều đó, trước hết là do những đặc điểm, xu thế phát triển của thời đại và hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam qui định. Triết học Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng để Đảng Cộng sản Việt Nam phân tích xu hướng phát triển của xă hội trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức trong kỉ nguyên toàn cầu hoá. Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá xã hội đang được đẩy mạnh ở hầu hết các quốc gia.
Bản chất của toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động, phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực, các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Toàn cầu hoá bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ mà nguyên nhân và biểu hiện của nó là sự phát triển, chi phối của các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia. Cùng với quá trình toàn cầu hoá, xu thế bổ sung và phản ứng lại là xu thế khu vực hoá. Toàn cầu hoá đem lại sự ra đời của hàng loạt tổ chức quốc tế và khu vực.