Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƢỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƢỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM. Một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nƣớc một thành viên. Khái niệm và đặc điểm. Theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được định nghĩa là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp 45, Khoản 3 Điều 3].
Tuy nhiên, sau khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời và lộ trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 sang tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp 2005, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được tổ chức và hoạt động chung theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được quy định tại Luật doanh nghiệp 2005. Theo đó, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty [47, Khoản 1, Điều 63]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ khái niệm nêu trên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trước hết cũng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đó là: Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty; Công ty không được phát hành cổ phần. Ngoài những đặc điểm chung đó, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên còn có những đặc điểm riêng: Về thành viên: Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất của công ty Về vốn điều lệ: Vốn điều lệ của công ty do nhà nước đầu tư và lấy từ nguồn ngân sách quốc gia.
Về chuyển nhượng vốn: Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho cá nhân, tổ chức khác. Sau khi chuyển nhượng vốn, công ty phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên hoặc công ty cổ phần. Về chế độ quản lý: Nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu của mình thông qua cơ chế ủy quyền cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu tại công ty 1. Phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên với các công ty khác.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: So sánh sự khác nhau giữa công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên với các công ty khác Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nƣớc một thành Các công ty khác viên Thực hiện các mục tiêu kinh Do nhu cầu hoạt động kinh Mục đích tế- xã hội do nhà nước giao vì doanh vì mục tiêu lợi nhuận thành lập mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận Chủ thể Tổ chức Cá nhân, tổ chức Chỉ hoạt động trong một số Hoạt động ở tất cả các lĩnh Ngành nghề lĩnh vực then chốt, trọng điểm vực, ngành nghề mà nhà nước kinh doanh không cấm Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Luật doanh nghiệp 2005. Phân loại công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại theo nhiều phương tiện và góc độ khác nhau: Căn cứ vào mục đích hoạt động Theo căn cứ này, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Doanh nghiệp hoạt động công ích là doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Căn cứ vào quy mô hoạt động 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo căn cứ này, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên độc lập và công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên thuộc tập đoàn, nhóm công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên độc lập là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nhân danh mình tham gia các quan hệ kinh tế không chịu sự ràng buộc thỏa thuận liên kết. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên thuộc tập đoàn, nhóm công ty là doanh nghiệp nằm trong cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp lớn hơn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin.
Căn cứ vào cách thức tổ chức, quản lý doanh nghiệp Theo căn cứ này, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại thành doanh nghiệp tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên và doanh nghiệp tổ chức theo mô hình Chủ tịch công ty. Mô hình Hội đồng thành viên gồm Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc và các Kiểm soát viên. Mô hình Chủ tịch công ty gồm Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc (Giám đốc) và các Kiểm soát viên. Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nƣớc một thành viên.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp hiện nay và Nghị định số 25/2010/NĐ-CP, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty. Đối với mô hình Hội đồng thành viên cơ cấu tổ chức gồm có: Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc/Giám đốc và các Kiểm soát viên. Với mô hình này, Chủ tịch hội đồng thành viên của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ được chuyển đổi từ tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập không kiêm Tổng giám đốc. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Công ty tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên Chủ sở hữu Bổ nhiệm Chỉ định Bổ nhiệm Giám sát Giám sát Kiểm soát viên Hội đồng thành viên Chủ tịch Hội đồng thành viên Giám sát Giám sát Tổng giám đốc/ giám đốc Nguồn: [13] Đối với mô hình Chủ tịch công ty cơ cấu tổ chức gồm có: Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc/Giám đốc và các Kiểm soát viên.
Với mô hình này, Chủ tịch công ty có thể kiêm Tổng giám đốc.2: Công ty tổ chức quản lý theo mô hình Chủ tịch công ty Chủ sở hữu Bổ nhiệm Bổ nhiệm Giám sát Kiểm soát viên Chủ tịch công ty Giám sát Giám sát Tổng giám đốc/ giám đốc Nguồn: [13]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nƣớc một thành viên. Ở nước ta, sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, khi Nhà nước thực hiện việc quốc hữu hóa các cơ sở công nghiệp của chế độ cũ đã xuất hiện các doanh nghiệp quốc gia và được định nghĩa là một doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc gia và do quốc gia điều khiển.
Sau khi mô hình và cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bắt đầu được áp dụng ở miền Bắc, khu vực kinh tế quốc doanh được tổ chức thành các loại hình doanh nghiệp có tên gọi khác nhau, như: Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp; nông trường quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; lâm trường trong lĩnh vực lâm nghiệp; công ty trong lĩnh vực thương nghiệp. Do có sự thay đổi nhất định về điều kiện kinh tế - xã hội và nhận thức về cải cách nền kinh tế nên thuật ngữ Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh được thay thế bằng thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, Điều 1 Nghị định 388/HĐBT ban hành quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước quy định: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu". Năm 1995, doanh nghiệp nhà nước được xác định là "tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao" [42, Điều 1].
Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước còn được quy định "có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý; có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam" [42, Điều 1]. Đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, do thay đổi về chủ trương và đường lối của Đảng đối với hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, nhiều quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 1995 đã không còn phù hợp với tình hình cải cách doanh nghiệp nhà nước trên thực tế, đặc biết là quy định Nhà nước sở hữu 100% vốn của doanh nghiệp.