Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN 1. Những vấn đề cơ bản về Hội đồng nhân dân huyện 1. Khái niệm Hội đồng nhân dân được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (lúc đó là Hồ Chí Minh).
Theo sắc lệnh này, Hội đồng nhân dân được thành lập ở cấp xã và tỉnh bằng hình thức bầu trực tiếp của nhân dân. Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân khi đó chỉ 2 năm. Ngày nay, nhiệm kỳ của HĐND là 5 năm. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.
Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân. Các đại biểu HĐND được bầu ở một hay nhiều đơn vị bầu cử hợp thành tổ đại biểu HĐND. Số lượng các tổ đại biểu do thường trực HĐND quyết định.
Thường trực Hội đồng nhân dân là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và các quy định, khác của pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân. Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Ban của Hội đồng nhân dân là cơ quan của Hội đồng nhân dân, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình Hội đồng nhân dân, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ Chức năng của Hội đồng nhân dân là những phương diện, các mặt hoạt động cơ bản của Hội đồng nhân dân, phản ảnh địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân, được quyết định bởi vị trí, tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân.
Chức năng của Hội đồng nhân dân được pháp luật quy định là xuất phát từ vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân với tính chất là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn theo phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp và ủy quyền, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của địa phương. Trên cơ sở vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân huyện được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản khác quy định Hội đồng nhân dân có các chức năng như sau: Một là, chức năng Quyết định Chức năng cơ bản nhất của Hội đồng nhân dân là căn cứ vào Hiến pháp, Luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để ra các quyết định (dưới hình thức ban hành nghị quyết) về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân. Chẳng hạn như: các vấn đề của địa phương do Luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và Pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Nội dung phạm vi điều chỉnh nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp phụ thuộc vào nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân từng cấp do Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định. Có thể kể một số Nghị quyết của HĐND về các lĩnh vực như: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp Luật; xây dựng chính quyền, kinh tế, tài nguyên, môi trường, giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, 9 bảo đảm trật tự, an toàn xã hội… Dựa vào tính chất pháp lý, nghị quyết của HĐND gồm 2 loại: Nghị quyết quy phạm và nghị quyết cá biệt. Hai là, chức năng giám sát Ngoài chức năng quyết định, HĐND còn thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND mỗi cấp, giám sát hoạt động của thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, các Ban của HĐND cấp mình, giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp dưới. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình tại kỳ họp, giám sát của thường trực HĐND, giám sát của các Ban của HĐND, giám sát của các Tổ đại biểu HĐND và giám sát của đại biểu HĐND.
Nội dung giám sát do HĐND quyết định theo đề nghị của thường trực HĐND trên cơ sở các kiến nghị của Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND, đại biểu Hội đồng nhân dân , Ủy Ban mặt trận tổ quốc Việt nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua các hoạt động sau đây: -Xem xét báo cáo công tác của thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. -Xem xét báo cáo của UBND cùng cấp về tình hình thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp. -Xem xét văn bản của UBND cùng cấp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp.
-Xem xét trả lời chất vấn của Chủ tịch UBND, phó chủ tịch UBND, ủy viên UBND, Chánh án Tòa án Nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. -Xem xét trả lời chất vấn của Chủ tịch UBND, phó chủ tịch UBND, ủy viên UBND, Chánh án Tòa án Nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp 10 -Thành lập đoàn giám sát về một vấn đề nhất định khi xét thấy cần thiết và xem xét kết quả giám sát của Đoàn giám sát. -Kiểm tra tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn. -Bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu.
Căn cứ vào kết quả giám sát, HĐND có các quyền sau đây: -Yêu cầu UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp ban hành văn bản để thi hành Hiến pháp, pháp luật và Nghị quyết của HĐND. -Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản của UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND. -Ra Nghị quyết về trả lời chất vấn và trách nhiệm của người trả lời chất vấn và trách nhiệm của người trả lời chất vấn khi xét thấy cần thiết. -Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó trưởng bản của HĐND, Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND và ủy viên UBND.
Thường trực HĐND thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại địa phương. Để thực hiện chức năng này, thường trực HĐND tiến hành một số hoạt động giám sát sau đây: -Hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn của UBND, Tòa án Nhân dân, Viện kiểm tra Nhân dân cùng cấp. -Giám sát cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và các nghị quyết của HĐND cùng cấp. -Giám sát việc thực thi pháp luật về khiếu nại, tố cáo tổ chức Đoàn giám sát hoạt giao cho các Ban của HĐND giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
11 -Quyết định việc thành lập đoàn giám sát theo chương trình giám sát của mình hoặc yêu cầu của HĐND, đề nghị của các Ban của HĐND, các đại biểu HĐND. Các Ban của HĐND giúp HĐND giám sát. -Giám sát các hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. -Giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp trong lĩnh vực phụ trách.
-Giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách. -Tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do HĐND hoặc thường trực HĐND phân công. -Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với HĐND, thường trực HĐND. -Ngoài ra, các Ban của HĐND có thể cử thành viên đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét, xác minh về vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ban, tổ chức nghiên cứu, xử lý và xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Tóm lại, chức năng của HĐND thể hiện trên hai hướng. một là, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND (dưới hình thức ban hành nghị quyết); hai là, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND mỗi cấp; giám sát hoạt động của thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từng cấp, các Ban của HĐND cấp mình, giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản HĐND cấp dưới. Vị trí, vai trò HĐND và UBND hợp thành chính quyền địa phương. HĐND cùng các cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo lãnh thổ, kết hợp với quản lý theo ngành, lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước.
Trong chính quyền địa phương, HĐND được 12 xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.