Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở CẤP HUYỆN 1. Khát quát chung về hoạt động giám sát quản lý nhà nước 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại hoạt động giám sát 1. Khái niệm, đặc điểm Tùy theo cách thức và nội dung nghiên cứu, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm giám sát. Theo định nghĩa tại Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội 1988, do Hoàng Phê chủ biên thì giám sát là "Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không?[55,tr.
Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 1998 do Nguyễn Như Ý chủ biên lại định nghĩa: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”. Từ điển Luật học lại cho rằng: “Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động, thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh”. Luật Giám sát của Quốc hội và HĐND ngày 20/11/2015 Điều 2, khoản 1 quy định: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. 10 Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng theo nghĩa chung nhất có thể hiểu: Giám sát là việc (hoạt động) của một chủ thể có thẩm quyền nhằm theo dõi, xem xét và kiểm tra đối với một đối tượng nào đó khi thực hiện một công việc cụ thể trên cơ sở những quy ước giữa các bên, để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với những hành vi sai lệch của đối tượng giám sát, nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả đã xác định, bảo đảm cho các quy định được thực hiện đúng và đầy đủ.
Từ khái niệm trên, giám sát có những đặc điểm sau đây: - Giám sát tức là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định đánh giá về một việc đã thực hiện đúng hay sai với những điều đã quy định. - Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định và luôn gắn với đối tượng cụ thể (giám sát ai và giám sát việc gì?). - Giám sát được tiến hành trên cơ sở các quy định cụ thể của cấp thẩm quyền đang còn hiệu lực thi hành. - Giám sát là hoạt động chủ động, có mục đích được xác định trước của chủ thể thực hiện hoạt động giám sát và được thực hiện thường xuyên theo chương trình, kế hoạch đã định.
Đối với hoạt động QLNN, tham chiếu các văn bản, tài liệu hiện hành thì hoạt động QLNN được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động có tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chủ thể QLNN là các cơ quan, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công. Đối tượng của QLNN là tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Như vậy, theo nghĩa này thì QLNN có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc 11 phòng, an ninh. Mục tiêu của QLNN là nhằm phục vụ Nhân dân, đảm bảo duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt mục tiêu, nhiệm vụ QLNN. Theo cách hiểu này thì hoạt động QLNN cũng chính là hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Trong khuôn khổ cho phép, học viên chọn cách tiếp cận giám sát QLNN tại cấp huyện theo nghĩa hẹp. Phân loại giám sát hoạt động quản lý nhà nước Theo quy định của pháp luật (Hiến pháp, các đạo luật có liên quan), hoạt động giám sát đối với quản lý hành chính nhà nước bao gồm các loại sau: Một là, hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Đó là hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND (còn gọi là giám sát mang tính quyền lực) các cấp do Luật Giám sát của Quốc Hội và HĐND quy định; Hai là, hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên (là hoạt động giám sát không mang tính quyền lực), hoạt động giám sát này do Luật Mặt trận và Luật Công đoàn điều chỉnh; - Giám sát thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thông qua việc thực hiện thẩm quyền tài phán của Tòa hành chính đối với quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan hành chính hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành và thực hiện; - Giám sát của các cơ quan thông tấn báo chí và hoạt động giám sát của cử tri và của cá nhân công dân theo quy định của Luật báo chí. 12 Trong các chủ thể có thẩm quyền giám sát nêu trên đối với hoạt động QLNN thì mỗi chủ thể đều có những vai trò, vị trí và chức năng riêng, được pháp luật quy định cụ thể.
Vị trí, vai trò, chức năng của các chủ thể giám sát đối với hoạt động quản lý nhà nước 1. Vị trí, vai trò, chức năng của Quốc hội và Hội đồng nhân dân a. Vị trí, vai trò và chức năng của Quốc hội: Tại Điều 69, Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Khoản 2-3 Luật Giám sát của Quốc hội và HĐND 2015 quy định:“Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân”. “Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp”. Như vậy, Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nên chỉ có Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của Nhân dân thành luật và bắt buộc mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội phải tuân thủ.
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân bởi vì Quốc hội là cơ quan nhà nước do cử tri cả nước bầu ra bằng nguyên tắc phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín nên Quốc hội có nhiệm vụ phục vụ lợi ích chung của 13 Nhân dân và dân tộc, nói lên tiếng nói của Nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân cả nước. Với vị trí, vai trò quan trọng như trên, Quốc hội có các chức năng sau: - Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; - Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. - Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao (Điều 4 Luật giám sát của Quốc hội và HĐND). Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân: Hiến pháp năm 2013 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên".
Và tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: "Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". Theo quy định trên, HĐND được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã). Trong đó, mỗi cấp HĐND có một vị trí, vai trò quan trọng khác nhau. HĐND cấp tỉnh là cầu nối giữa trung ương và địa phương; HĐND là cầu nối giữa các cấp chính quyền địa phương trong việc thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước tại địa phương và là nơi trực tiếp quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố và giữ vững về quốc phòng, an ninh trên địa bàn địa phương.
Hội đồng nhân dân thực hiện các chức năng cơ bản như: ra Nghị quyết để quyết định những vấn đề cơ bản của địa phương, chức năng đại diện cho ý 14 chí và quyền lợi của nhân dân địa phương và chức năng giám sát đối với hoạt động QLNN của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Về chức năng giám sát, khoản 2 Điều 2 Luật Giám sát của Quốc hội và HĐND cũng quy định: HĐND là chủ thể giám sát hoạt động QLNN ở địa phương, khoản 6 cụ thể hóa hoạt động giám sát của HĐND: “Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân”. Như vậy, giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND, có mối quan hệ mật thiết với chức năng quyết định của HĐND.