Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 1. Những vấn đề chung về giải quyết khiếu nại và giám sát giải quyết khiếu nại 1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, là một quyền có ý nghĩa hết sức quan trọng, là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức và cũng là phương thức để người dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế XHCN, thể hiện một nhà nước dân chủ XHCN của dân do dân và vì dân. Chính vì vậy trên cơ sở Hiến pháp, đã có nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước ta quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại như Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005), Luật Khiếu nại năm 2011.
Xét về mặt pháp lý thì khiếu nại là quyền tự do, dân chủ của người dân được pháp luật qui định và đảm bảo thực hiện bởi bộ máy nhà nước. Theo T điển Anh - Việt, khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: "Complant" có nghĩa là sự phàn nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình [48, tr. Theo Đại T điển tiếng Việt, khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm [59, tr. Tại Khoản 1, Điều 2 của Luật Khiếu nại năm 2011qui định: Khiếu nại được hiểu là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền 14 Luan van xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Như vậy, khiếu nại theo nghĩa chung nhất là việc công dân, tổ chức theo luật định được quyền yêu c u cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xem xét lại quyết định mà họ cho là không đúng nếu thi hành sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ. Hoạt động khiếu nại đi liền với hoạt động giải quyết khiếu nại, theo Khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 qui định: Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Như vậy giải quyết khiếu nại bao gồm 4 giai đoạn đó là: thụ lý, xác minh nội dung, đưa ra kết luận đúng, sai và cuối cùng là ban hành quyết định giải quyết. Giám sát giải quyết khiếu nại Giám sát là phương thức để kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực nhà nước theo đúng mục tiêu định hướng đề ra và kiểm tra theo dõi xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không.
Giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại ở nước ta hiện nay là một trong những phương thức để đảm bảo và tăng cường pháp chế XHCN. Pháp luật nước ta ghi nhận vai trò giám sát của các cơ quan, tổ chức mang tính quyền lực (QH, HĐND…) và giám sát không mang tính quyền lực (Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên, Ban Thanh tra nhân dân, Báo chí…) đơn cử một số qui định như sau: Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định: QH xem xét báo cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điểm c, Khoản 15 Luan van 1, Điều 13); UBTVQH giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; xem xét báo cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; tổ chức giám sát chuyên đề hoặc phân công HĐDT, Ủy ban của QH giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, UBTVQH chỉ đạo nghiên cứu, xử lý; khi c n thiết chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét, giải quyết. (Khoản 1, 2, Điều 30); HĐDT, Ủy ban của QH, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân thuộc lĩnh vực HĐDT, Ủy ban của QH phụ trách.
Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, Thường trực HĐDT, Thường trực Ủy ban của QH có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu và xử lý (Khoản 1, 2, Điều 44). Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tổ chức để ĐBQH tiếp công dân, giám sát cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho ĐBQH về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn theo quy định của pháp luật (Khoản 1,2, Điều 54).
Hay qui định giám sát của HĐND thông qua xem xét báo cáo của Ủy ban nhân dân về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thường trực HĐND, tổ chức Đoàn giám sát hoặc giao cho các Ban của HĐND giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa phương (Khoản 1, Điều 73)… Như vậy, QH và HĐND thực hiện quyền giám sát bằng các phương thức: xem xét, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo; các báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; chất vấn; cử đoàn giám 16 Luan van sát, xem xét cụ thể việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; chuyển đơn, thư khiếu nại, tố cáo đến người có thẩm quyền giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết. Như vậy, có thể thấy vai trò giám sát của QH và HĐND ở đây mang tính chất theo dõi, kiểm tra về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không tham gia kiểm tra trực tiếp đối với hoạt động này. Đối với hoạt động giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của MTTQVN, các tổ chức thành viên, tại Điều 66 Luật Khiếu nại qui định: MTTQVN, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại; động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật về khiếu nại; tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại; khi nhận được khiếu nại thì nghiên cứu, hướng dẫn người khiếu nại đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; Khiếu nại do MTTQVN, các tổ chức thành viên của Mặt trận chuyển đến phải được người giải quyết khiếu nại xem xét, giải quyết và trong thời hạn 07 ngày, kể t ngày có quyết định giải quyết phải thông báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đơn biết kết quả giải quyết; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì tổ chức đã chuyển đơn có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết; cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trong thời hạn 07 ngày, kể t ngày có quyết định giải quyết.
Quy định trên cho thấy loại hình giám sát này được thực hiện bằng các phương thức: phát hiện, kiến nghị, phản ánh về hoạt động ban hành và thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo; hay việc tham gia hoạt động giám sát với cơ quan nhà nước thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân. Đây là hình thức giám sát hỗ trợ giám sát của cơ quan nhà nước, thể hiện tính dân chủ của nhà nước XHCN, là phương thức quan trọng để nhân dân - người chủ đích thực của quyền lực nhà nước tham gia quản lý nhà nước và kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước [ 25]. 17 Luan van T những qui định trên ta có thể rút ra nhận định về giám sát giải quyết khiếu nại: Giám sát giải quyết khiếu nại là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về giải quyết khiếu nại và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu c u, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Hay đi t hoạt động giải quyết khiếu nại thì có thể hiểu giám sát giải quyết khiếu nại là giám sát việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền t đó đưa ra biện pháp xử lý hoặc yêu c u, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Như vậy, t tên gọi giám sát giải quyết khiếu nại có thể thấy đây là hoạt động có mục đích rõ ràng. Mục đích của hoạt động giám sát này là đưa ra những nhận định, kết luận của chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động giải quyết khiếu nại của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, t đó đưa ra biện pháp xử lý đối với những việc làm trái quy định, bảo đảm cho những quy định của chủ thể giám sát được chấp hành đúng. Khái quát về giám sát giải quyết khiếu nại của Đoàn đại biểu Quốc hội 1. Khái niệm giám sát giải quyết khiếu nại của Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn ĐBQH là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức và hoạt động của QH nước ta.
Hình thức tổ chức Đoàn ĐBQH ra đời ngay t kỳ họp thứ ba của QH khoá I và tồn tại t đó cho đến nay. Theo quy định của pháp luật hiện hành, Đoàn ĐBQH hợp thành bởi các ĐBQH được b u trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương. Đoàn ĐBQH có Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn là ĐBQH hoạt động chuyên trách. Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn do Đoàn ĐBQH b u trong số các ĐBQH của Đoàn và được UBTVQH phê chuẩn.
Đoàn ĐBQH có trụ sở làm việc. Văn phòng Đoàn 18 Luan van ĐBQH là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các ĐBQH, Đoàn ĐBQH tại địa phương.