CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1. Khái quát về chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo 1. Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo 1. Khái niệm chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo * Khiếu nại và giải quyết khiếu nại Khiếu nại là hoạt động diễn ra khá thường xuyên và phổ biến, do đó cụm từ khiếu nại được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội [7, tr.
Theo nghĩa rộng: Khiếu nại được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm hại đến quyền, lợi ích của bản thân [27]. Theo nghĩa hẹp: Khiếu nại được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan xem xét lại các quyết định, hành vi trái pháp luật khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình [27]. Vấn đề khiếu nại cũng được luật hóa theo quy định tại Điều 2, Luật khiếu nại năm 2011: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [17]. 10 n Căn cứ vào tính chất của quyết định, hành vi và các quan hệ pháp luật phát sinh khiếu nại được phân thành hai dạng cơ bản sau: Khiếu nại hành chính: khiếu nại về định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước.
Đó là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật khi có căn cứ cho rằng nó xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khiếu nại tư pháp: khiếu nại về quyết định trái pháp luật hoặc hành vi trái pháp luật trong hoạt động tư pháp. Khiếu nại tư pháp là khiếu nại về quyết định hoặc hành vi trái pháp luật của cơ quan hoặc của người tiến hành tố tụng như: cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án hoặc điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, chấp hành viên. Khiếu nại tư pháp trong lĩnh vực hình sự,dân sự, kinh tế, lao động, hành chính được pháp luật tố tụng tương ứng quy định.Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ đề cập đến khiếu nại trong phạm vi hành chính của các cơ quan nhà nước.
Khoản 11, điều 3, Luật khiếu nại 2011 quy định: “Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại” [17]. Hoạt động giải quyết khiếu nại là bước tiếp theo khi có yêu cầu giải quyết (khi có khiếu nại), gồm có các giai đoạn: thụ lý vụ việc; xác minh tình tiết, nội dung vụ việc; kết luận về tính đúng sai, cơ sở pháp lý của nội dung khiếu nại, của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; ra quyết định giải quyết khiếu nại. Giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền là việc các cơ quan này tiến hành hoạt động thuộc thẩm quyền chức năng, nhiệm vụ của mình để có biện pháp theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội. 11 n * Tố cáo và giải quyết tố cáo Tố cáo là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội.Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì tố cáo là: “vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận” [38].
Cách hiểu khác: tố cáo là việc công dân báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về bất kỳ hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, tổ chức, cộng đồng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Theo quy định tại Điều 2, Luật tố cáo năm 2018: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [21]. Tố cáo được phân thành các dạng cơ bản sau: Tố cáo hành chính: tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước. Đây là dạng tố cáo hướng vào các hành vi vi phạm về các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước.
Việc xử lý, giải quyết tố cáo dạng này do các cơ quan giải quyết theo thủ tục hành chính thông thường. Tố cáo về các hành vi vi phạm của tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư thuộc phạm vi điều chỉnh của nội bộ các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư đó. Đây là dạng tố cáo hướng vào các hành vi trái với tôn chỉ, muc đích đã được thể hiện trong quy định của tổ chức, của cộng đồng; trái với luân thường đạo lý đã mặc nhiên được thừa nhận. Xử lý tố cáo dạng này được thực hiện theo quy định của tổ chức, cộng đồng đã được ghi nhận trong quy chế, điều lệ hoặc được hình thành mặc nhiên trong cộng đồng.
12 n Tố cáo tội phạm: tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật hình sự khi công dân cho rằng một cá nhân, một tổ chức đã hoặc sẽ thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội hoặc cho rằng hành vi đó đã vi phạm các quy định của pháp luật hình sự thì họ thực hiện tố cáo hành vi vi phạm trước cơ quan có thẩm quyền. Hành vi là đối tượng của dạng tố cáo này được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự. Việc xử lý và giải quyết tố cáo tội phạm được quy định chặt chẽ và thực hiện theo thủ thục tố tụng hình sự.Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ đề cập đến tố cáo trong phạm vi hoạt động hành chính nhà nước. Theo quy định tại Khoản 7, điều 2, Luật tố cáo 2011: “Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo” [18].
Theo đó hoạt động giải quyết tố cáo bao gồm các giai đoạn: tiếp nhận vụ việc; xác minh tình tiết, nội dung vụ việc; kết luận về tính đúng sai, cơ sở pháp lý của nội dung tố cáo; việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo. Hoạt động giải quyết tố cáo phức tạp hơn hoạt động giải quyết khiếu nại vì giải quyết tố cáo có liên quan đến quyền lợi của nhiều chủ thể bị xâm phạm bởi hành vi trái pháp luật: lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của công dân… điều này đòi hỏi khi giải quyết tố cáo các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét thật kỹ. * Chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo Chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo xét về bản chất là chính sách công. Vì vậy, để hiểu chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo trước hết cần nhận thức khái quát về chính sách công [39, tr.
Có quan điểm cho rằng: Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể hiểu: Chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo là một tập hợp các quyết định, chính sách, chương trình, đề án, dự án có liên quan của Nhà nước với các công cụ thực hiện cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo của người dân. Mục tiêu, ý nghĩa chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo Bản chất của chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo là bảo đảm về mặt chính sách cho quyền tự vệ hợp pháp của công dân trước những hành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội. Do đó, chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo có vai trò,ý nghĩa quan trọng thể hiện: Thứ nhất, bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được pháp luật ghi nhận. Việc giải quyết đúng khiếu nại, tố cáo cho người dân và những người liên quan còn là cơ sở cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của công dân.
Nó chính là phương tiện để công dân đấu tranh chống lại các hành vi trái pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình.Hơn thế nữa, việc giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo còn là động lực thúc đẩy nhân dân tích cực tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, phát huy dân chủ XHCN. Thứ hai, bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, được nhanh chóng kịp thời và chính xác, tháo gỡ những vướng mắc, bức xúc, mâu thuẫn của người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thứ ba, bảo đảm phát huy vai trò của việc phổ biến tuyên truyền và giáo dục chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới người dân; giúp họ hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật mà tự giác thực hiện. Thứ tư, bảo đảm sự giám sát của nhân dân đối với Nhà nước, nhất là đối với hoạt động, hành vi của các cơ quan, cán bộ, công chức phát hiện những hành vi tham nhũng, quan liêu, tiêu cực cũng như các biểu hiện vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức để kịp thời giáo dục, xử lý, loại trừ ra khỏi bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Thứ năm, góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật phù hợp với tình hình thực tiễn của cuộc sống.