Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng giảm nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn là một thách thức lớn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Trên bình diện quốc gia, đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 15% tổng dân số nhưng lại chiếm tới 47% số người nghèo và 68% số người nghèo cùng cực của cả nước. Huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là một địa bàn miền núi có vị trí chiến lược quan trọng nhưng sở hữu tỷ lệ hộ nghèo thuộc nhóm cao nhất tỉnh. Tính đến năm 2018, huyện Na Rì có quy mô dân số 42.073 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 92,92% với các cộng đồng dân tộc chính gồm Tày chiếm 45,28%, Nùng chiếm 30,93%, Dao chiếm 14,45% và Mông chiếm 1,97%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết nghịch lý giữa tiềm năng tự nhiên phong phú với tỷ lệ đói nghèo dai dẳng của đồng bào dân tộc thiểu số địa phương. Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng nghèo theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2015 - 2018, phân tích các nhân tố cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp giảm nghèo bền vững cho giai đoạn 2020 - 2025.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian toàn huyện Na Rì, tập trung khảo sát chuyên sâu tại 3 xã đại diện là Quang Phong, Cư Lễ và Văn Học. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh, hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ mức 28,39% năm 2018 xuống dưới 15% vào năm 2025 và kiểm soát tỷ lệ tái nghèo ở mức dưới 1,5% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững kết hợp với khung tiếp cận nghèo đa chiều hiện đại. Lý thuyết sinh kế bền vững xem xét kết quả giảm nghèo dựa trên sự tương tác giữa 5 nguồn vốn cơ bản gồm vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp các nguyên lý về phát triển bao trùm và chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và Nghị quyết số 80/2011/NQ-CP của Chính phủ.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm nền tảng:

  • Nghèo tuyệt đối: Tình trạng dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu sinh tồn tối thiểu về ăn, mặc, ở.
  • Nghèo tương đối: Trạng thái mức sống của cá nhân hoặc hộ gia đình nằm dưới mức trung bình của cộng đồng địa phương.
  • Nghèo đa chiều: Tình trạng con người bị thiếu hụt đồng thời về thu nhập và khả năng tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch sinh hoạt và thông tin.
  • Thoát nghèo bền vững: Khả năng hộ gia đình duy trì mức thu nhập và điều kiện sống cao hơn chuẩn nghèo một cách ổn định, có năng lực chống chịu trước các rủi ro kinh tế và thiên tai.
  • Tái nghèo: Tình trạng hộ gia đình đã vượt qua chuẩn nghèo nhưng rơi trở lại trạng thái nghèo đói do biến cố sinh kế hoặc dịch bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các niên giám thống kê, báo cáo tổng kết kinh tế xã hội và cơ sở dữ liệu giảm nghèo của Ủy ban nhân dân huyện Na Rì cùng Chi cục Thống kê huyện trong giai đoạn 2015 - 2018. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trong năm 2018.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức Slovin với tổng thể 2.756 hộ nghèo dân tộc thiểu số và sai số cho phép 0,09. Quy mô mẫu tính toán đạt 118 hộ và được mở rộng lên 120 hộ khảo sát chính thức, bao gồm 98 hộ nghèo chiếm 81,67% và 22 hộ cận nghèo chiếm 18,33%.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng tại 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái: xã Quang Phong đại diện cho vùng 1 có kinh tế trung bình và giao thông thuận lợi; xã Cư Lễ đại diện cho vùng 2 có thế mạnh nông nghiệp lúa nước phát triển; xã Văn Học đại diện cho vùng 3 vùng cao có địa hình hiểm trở và kinh tế đặc biệt khó khăn. Mỗi xã điều tra 40 hộ dân tộc thiểu số. Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng thống kê mô tả, phân tổ thống kê hai chiều và phương pháp so sánh tương đối - tuyệt đối trên phần mềm Microsoft Excel nhằm phản ánh trực quan sự thiếu hụt các chiều dịch vụ xã hội của từng nhóm dân tộc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ hộ nghèo của huyện Na Rì đã giảm liên tục nhưng nghèo về thu nhập vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo. Giai đoạn 2015 - 2018 ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 40,89% với 3.995 hộ năm 2015 xuống 28,39% với 2.843 hộ năm 2018, tương ứng mức giảm 12,50 điểm phần trăm. Tuy nhiên, trong 2.843 hộ nghèo năm 2018 có tới 2.686 hộ nghèo do thiếu hụt tiêu chí thu nhập dưới 700.000 đồng/người/tháng, chiếm tỷ lệ 94,40%.

Thứ hai, mức độ nghèo đói phân hóa sâu sắc theo thành phần dân tộc thiểu số. Đồng bào dân tộc thiểu số luôn chiếm trên 95% tổng số hộ nghèo toàn huyện. Tỷ lệ nghèo trong cộng đồng người Mông ở mức cao nhất với 72,88% vào năm 2018 (129 hộ nghèo trên 177 hộ), người Dao chiếm 58,55% (798 hộ nghèo trên 1.363 hộ), người Nùng chiếm 27,97% (884 hộ nghèo trên 3.161 hộ), người Tày chiếm 20,12% (939 hộ nghèo trên 4.666 hộ), trong khi tỷ lệ này ở người Kinh chỉ là 13,70% (87 hộ nghèo trên 635 hộ).

Thứ ba, sự chênh lệch địa bàn giữa các tiểu vùng diễn ra gay gắt. Xã Văn Học thuộc vùng đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 lên tới 71,19% và 100% hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số. Trong khi đó, xã Quang Phong có tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hơn, từ 40,00% năm 2015 xuống còn 35,97% năm 2018.

Thứ tư, kết quả khảo sát 120 hộ cho thấy các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo gồm: thiếu vốn sản xuất chiếm 68,33% số phiếu điều tra, thiếu đất canh tác màu mỡ chiếm 54,17%, chủ hộ có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở chiếm 62,50% và quy mô hộ đông con với trung bình trên 4 nhân khẩu mỗi hộ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nghèo đói tại Na Rì bắt nguồn từ sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Về nội sinh, trình độ dân trí của đồng bào còn hạn chế, tập quán canh tác lạc hậu và tư tưởng trông chờ ỷ lại vào chính sách bảo trợ xã hội vẫn tồn tại ở một bộ phận người dân. Về ngoại sinh, địa hình đồi núi chiếm hơn 88% diện tích tự nhiên, thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi lũ quét và hạn hán cục bộ, khiến nguồn lực đất đai bị chia cắt mạnh.

Kết quả này củng cố các kết luận trong công trình nghiên cứu của tác giả Hà Quang Trung năm 2014 về bẫy nghèo tài nguyên tại tỉnh Bắc Kạn và nghiên cứu của tác giả Ngô Xuân Quyết năm 2006 tại vùng Tây Bắc. Dữ liệu thực tế cho thấy cơ cấu nghèo đa chiều của huyện có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ radar 5 chiều, làm nổi bật 2 chiều thiếu hụt nghiêm trọng nhất là nhà ở kiên cố và điều kiện vệ sinh môi trường. Việc chuyển đổi từ tư duy hỗ trợ trực tiếp sang đầu tư nâng cao năng lực sinh kế tự chủ là chìa khóa để duy trì thành quả giảm nghèo dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phát triển chuỗi giá trị nông lâm nghiệp hàng hóa đặc sản. Ủy ban nhân dân huyện Na Rì cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần mở rộng diện tích vùng nguyên liệu cây dong riềng đạt sản lượng trên 20.000 tấn củ/năm, đồng thời hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất miến dong an toàn theo tiêu chuẩn OCOP. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân của các hộ tham gia chuỗi giá trị thêm 25% đến 30% trong giai đoạn 2020 - 2023.

Thứ hai, đổi mới công tác đào tạo nghề và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật lâm nghiệp. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn, khai thác bền vững 66.949 ha đất lâm nghiệp cho tối thiểu 85% lao động nghèo dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động trước năm 2024.

Thứ ba, mở rộng quy mô tín dụng chính sách ưu đãi gắn với giám sát sinh kế. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Na Rì cần phối hợp với các tổ chức đoàn thể giải ngân vốn vay ưu đãi đến 100% hộ nghèo và cận nghèo có phương án sản xuất khả thi, định mức vay tối đa 100 triệu đồng/hộ, đảm bảo kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% và tỷ lệ tái nghèo dưới 1,5% mỗi năm trong giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ tư, đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu nhằm giải quyết các chiều thiếu hụt dịch vụ cơ bản. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn và Ủy ban nhân dân huyện Na Rì cần lồng ghép các nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia để kiên cố hóa 100% tuyến đường giao thông liên thôn tại các xã vùng cao như Văn Học, nâng tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt trên 95% và xóa bỏ 100% nhà tạm dột nát cho hộ nghèo trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại các cơ quan như Ủy ban nhân dân các cấp, Phòng Dân tộc, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội. Nhóm này có thể sử dụng bộ dữ liệu thực chứng và hệ thống chỉ tiêu nghèo đa chiều 10 chỉ số để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách giảm nghèo sát thực tế.

Thứ hai, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học và Quản lý công. Luận văn cung cấp case study hoàn chỉnh về việc vận dụng công thức Slovin trong chọn mẫu n = 120 và kỹ thuật phân tích nghèo đa chiều cấp huyện miền núi.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ, ban điều phối dự án phát triển cộng đồng và các tổ chức an sinh xã hội. Các tổ chức này có thể tham khảo mô hình đánh giá nhu cầu sinh kế để thiết kế các dự án can thiệp đặc thù cho các nhóm dân tộc thiểu số có mức nghèo cao như người Dao và người Mông.

Thứ tư, các hợp tác xã nông lâm nghiệp và doanh nghiệp chế biến nông sản tại khu vực trung du miền núi phía Bắc. Doanh nghiệp có thể nhận diện tiềm năng liên kết bao tiêu chuỗi sản phẩm miến dong riềng và khai thác kinh tế đồi rừng trên quy mô hơn 74.700 ha diện tích tự nhiên của huyện.

Câu hỏi thường gặp

Điểm mới cốt lõi của luận văn so với các công trình nghiên cứu trước đây là gì? Luận văn là công trình đầu tiên tại huyện Na Rì tiếp cận vấn đề giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg thay vì phương pháp đo lường đơn chiều theo thu nhập truyền thống. Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về 5 chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản của 120 hộ dân tộc thiểu số tại 3 tiểu vùng kinh tế khác nhau.

Vì sao tỷ lệ nghèo của cộng đồng người Mông và Dao lại cao vượt trội so với các dân tộc khác? Số liệu năm 2018 ghi nhận tỷ lệ nghèo của người Mông là 72,88% và người Dao là 58,55%. Nguyên nhân chủ yếu do hai dân tộc này thường cư trú tại vùng núi cao hiểm trở, đất canh tác dốc và thiếu nước, trình độ học vấn thấp với hơn 70% chủ hộ chưa học hết tiểu học và rào cản ngôn ngữ trong tiếp cận kỹ thuật sản xuất mới.

Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 được áp dụng trong nghiên cứu theo tiêu chí nào? Chuẩn nghèo khu vực nông thôn áp dụng tiêu chí thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống, hoặc thu nhập từ trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng/người/tháng kết hợp thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản trở lên trong tổng số 10 chỉ số về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin.

Cây dong riềng đóng vai trò như thế nào trong giải pháp thoát nghèo của huyện Na Rì? Cây dong riềng là cây trồng mũi nhọn với sản lượng hàng năm đạt trên 18.000 tấn củ, cung cấp nguyên liệu cho các làng nghề sản xuất miến dong truyền thống. Chuỗi giá trị này đã mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm cho nhiều hộ gia đình, giúp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông hộ sang chế biến hàng hóa có giá trị gia tăng cao.

Giải pháp nào mang tính quyết định để hạn chế nguy cơ tái nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số? Giải pháp quyết định là nâng cao nội lực sinh kế thông qua đào tạo nghề gắn với hỗ trợ vốn vay tín dụng chính sách ưu đãi có hoàn trả. Thay vì trợ cấp trực tiếp bằng tiền mặt, việc tập huấn kỹ thuật canh tác lâm nghiệp và kết nối tiêu thụ nông sản giúp các hộ nghèo tự chủ kinh tế và chống chịu tốt trước rủi ro thiên tai.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng nghèo đa chiều tại huyện Na Rì, chỉ ra tỷ lệ hộ nghèo giảm ấn tượng từ 40,89% năm 2015 xuống 28,39% năm 2018 nhưng áp lực nghèo thu nhập vẫn chiếm 94,40%.
  • Nghiên cứu nhận diện rõ nét sự phân hóa nghèo giữa các tộc người, trong đó tỷ lệ nghèo của người Mông chiếm 72,88% và người Dao chiếm 58,55%, cao hơn gấp nhiều lần mức 13,70% của người Kinh.
  • Khảo sát 120 hộ thực địa tại 3 xã Quang Phong, Cư Lễ, Văn Học xác định 4 nút thắt lớn nhất gồm thiếu vốn sản xuất, thiếu đất canh tác màu mỡ, trình độ văn hóa thấp và quy mô hộ đông con.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về phát triển chuỗi giá trị cây dong riềng, đào tạo nghề lâm nghiệp, mở rộng tín dụng chính sách và hoàn thiện hạ tầng đã được xây dựng khả thi cho giai đoạn 2020 - 2025.
  • Đề tài đóng góp cơ sở khoa học vững chắc giúp chính quyền huyện Na Rì và tỉnh Bắc Kạn thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số bền vững trong tương lai.