Chương 1: Những vấn đề lý luận về vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài và giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI VÀ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm vụ án dân sự có yếu tố nƣớc ngoài, giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nƣớc ngoài 1. Quan hệ dân sự, tranh chấp dân sự, vụ án dân sự 1.
Quan hệ dân sự Quan hệ dân sự thường được hiểu là quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức được xác lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự do ý chí và bình đẳng về địa vị pháp lý để nhằm đáp ứng, giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội dân sự. Đối tượng của quan hệ dân sự là quan hệ tài sản hay quan hệ nhân thân, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng giữa các bên. Trong khoa học pháp lý, quan hệ dân sự dùng để chỉ các hoạt động mang tính dân sự và khác biệt với các nhóm quan hệ hình sự, quan hệ hành chính. Quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có quan hệ dân sự thuần túy còn theo nghĩa rộng quan hệ dân sự có thêm quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh thương mại, quan hệ lao động.
Khái niệm quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp là phụ thuộc vào quy định của mỗi hệ thống pháp luật, nhưng thông thường quan hệ dân sự nói chung được hiểu theo nghĩa rộng bởi các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm. Tranh chấp dân sự Theo giải thích của từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được hiểu là “Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” [71, tr. Theo từ điển giải thích từ ngữ luật học, nêu khái niệm tranh chấp trong lĩnh vực dân sự là “Những mâu thuẩn, bất hoà về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa 7 các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự” [72, tr. Tranh chấp dân sự được cấu thành bởi các yếu tố đó là: - Phải có quan hệ dân sự tồn tại giữa các bên tranh chấp; - Có sự vi phạm nghĩa vụ của một bên dẫn đến quyền và lợi ích của bên khác bị ảnh hưởng; - Có sự bất đồng giữa các bên về việc đánh giá sự vi phạm, lỗi của từng chủ thể, cách thức giải quyết, mức độ xử lý và chịu hậu quả phát sinh từ sự vi phạm pháp luật tố tụng dân sự.
Theo quy định của BLTTDS năm 2015, có khoản hơn 30 loại tranh chấp cụ thể trong các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng. Tranh chấp là điều không thể tránh khỏi trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ dân sự có YTNN nói riêng. Tranh chấp trong quan hệ dân sự có YTNN phức tạp hơn so với tranh chấp dân sự thông thường do các bên trong quan hệ tranh chấp thường cư trú ở các nước khác nhau dẫn đến khác biệt trong nhận thức pháp luật và tập quán sinh hoạt. Vụ án dân sự Theo quy định của BLTTDS thì vụ án dân sự được phân biệt với việc dân sự.
Dấu hiệu phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự là trong vụ án có yếu tố tranh chấp còn việc thì không có tranh chấp. Vụ án được hiểu là các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền, Toà án thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết, xét xử bằng một quyết định hoặc bản án. Những người tham gia tố tụng trong vụ án dân sự gồm có người khởi kiện là nguyên đơn, người bị kiện là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến quan hệ tranh chấp, ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Vụ án dân sự sẽ được Tòa án giải quyết, xét xử theo trình tự, thủ tục tố tụng 8 chặt chẽ và kết thúc bằng một bản án, quyết định của Tòa án.
Quyết định, bản án này được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Yếu tố nước ngoài trong vụ án dân sự Các nước trên thế giới có quan điểm khác nhau về quan niệm YTNN trong quan hệ dân sự. YTNN được xác định thường dựa vào một trong ba dấu hiệu đó là: có chủ thể ở nước ngoài; Khách thể của quan hệ đó được thực thi ở nước ngoài hoặc được xác lập theo luật nước ngoài; Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Việc nhận diện YTNN trong quan hệ dân sự là hết sức cần thiết, đây chính là dấu hiệu phân biệt đối tượng điều chỉnh giữa tư pháp quốc tế và luật dân sự nói chung.
Ở Việt Nam, đã định nghĩa quan hệ hay vụ việc dân sự có YTNN trong một số văn bản quy phạm pháp luật. Thuật ngữ “Yếu tố nước ngoài” lần đầu tiên được xác định cụ thể trong Điều 826 BLDS năm 1995. Theo đó, quan hệ dân sự có YTNN được hiểu là “các quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” [34]. Tuy nhiên, quan niệm YTNN này vẫn bỏ sót nhiều đối tượng nên nảy sinh nhiều trường hợp tranh cãi như việc xác định quốc tịch của cá nhân, pháp nhân.
Thời điểm này pháp luật Việt Nam không thừa nhận cá nhân vừa có quốc tịch Việt Nam vừa có quốc tịch nước khác. Những đối tượng rơi vào trường hợp này sẽ khó được pháp luật Việt Nam bảo vệ với tư cách là công dân Việt Nam. Bắt đầu từ BLTTDS năm 2004, khái niệm “yếu tố nước ngoài” được xác định rõ ràng hơn, trong đó tại Điều 405 có quy định “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc có quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài 9 sản liên quan ở nước ngoài”[37]. Tiếp theo, tại Điều 758 BLDS năm 2005 có quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” [35].
Như vậy, BLDS năm 2005 đã đưa thêm chủ thể người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào khái niệm YTNN để thừa nhận trên thực tế khi giải quyết tranh chấp liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc xác định như thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một vấn đề cần phải làm rõ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Quốc tịch xác định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [53]. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào quy định cụ thể làm ăn, sinh sống ở nước ngoài thời gian bao lâu thì được gọi là lâu dài, gây khó khăn cho việc xác định người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng như không cho phép chủ thể người Việt Nam ở nước ngoài không cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài tham gia tố tụng tại Toà án có thẩm quyền của Việt Nam.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 663 BLDS năm 2015 như sau: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài” [38]. So với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây, thì BLDS năm 2015 đã đưa ra khái niệm quan hệ dân sự có YTNN đầy đủ hơn. 10 Tương tự BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015 phân loại vụ việc dân sự có YTNN dựa trên hai tiêu chí cơ bản đó là: Quốc tịch của đương sự và nơi xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự; Quốc tịch của đương sự và nơi có đối tượng của quan hệ dân sự cần được thực hiện. BLTTDS năm 2015 không còn sử dụng tiêu chí “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” để làm căn cứ xác định vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Đồng thời BLTTDS năm 2015 cũng xác định tiêu chí YTNN dựa trên “đối tượng của quan hệ dân sự ở nước ngoài” là vật (tài sản) ở nước ngoài và công việc được thực hiện ở nước ngoài. Bên cạnh BLDS và BLTTDS, các luật chuyên nghành cũng nêu định nghĩa về quan hệ dân sự có YTNN. Như tại khoản 25 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có ghi nhận: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” [47].