Chương I: Những quy định chung” Luật thanh niên Việt Nam ban hành năm 2005 có hiệu lực ngày 01/7/2006, quy định: “Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến ba mươi tuổi”. Dưới góc độ tâm lý học, các nhà tâm lý học nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là môt công dân có trách nhiệm. Dưới góc độ kinh tế học thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, độ tuổi bình quân mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau.
Tuy nhiên, theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi. Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15-34 tuổi là thuộc cơ cấu lao động trẻ. Còn thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi từ 15-24 tuổi để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi và kết thúc đào tạo nghề nghiệp ở cấp Đại học lúc 24 tuổi. Nhiều nước quy định ở độ tuổi 15-24 tuổi, riêng Việt Nam quy định ở độ tuổi 16-30 tuổi.
[5] Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nhằm đảm bảo phù hợp với các nhóm lứa tuổi theo quy định, điều tra hằng năm tại Việt Nam, đảm bảo cho việc phân tích được thống nhất, chính xác tác gải thống nhất thanh niên được hiểu là công dân Việt Nam trong độ tuổi từ 16-30 tuổi, với hai phân nhóm 9 nhỏ từ đủ 16-20 và từ 22-30 tuổi bao gồm: - Nhóm sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông không có điều kiện học lên, tham gia ngay vào thị trường lao động. Đó là lao động phổ thông, chưa được đào tạo nghề. - Nhóm sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học, dạy nghề (đã qua đào tạo nghề) sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động. * Thanh niên dân tộc thiểu số Thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội; có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu: TNDTTS là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của cộng đồng các dân tộc thiểu số, lao động hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước [16]. Như vậy, giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là: Quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định để kết hợp với thể chất, tâm lý, trí tuệ của TNDTTS (là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi) một cách hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước. Đặc điểm tâm lý xã hội của Thanh niên dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây: Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc.
Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc. 10 Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước. Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm.
Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc). Việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số 1. Một số khái niệm * Việc làm Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các khái niệm việc làm theo các khía cạnh khác nhau: Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Người có việc làm là người đang làm việc trong lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp phần cho xã hội”. Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: + Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.
+ Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. + Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. 11 Theo quan niệm của Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghê…) để sử dụng sức lao động đó.
Theo quan niệm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới việc thiếu việc làm hay mất việc làm.Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ. Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho giải quyết việc làm [36, tr 5]. Phân loại việc làm: Có nhiều cách nhìn nhận và phân loại việc làm như việc làm bán thời gian, việc làm đầy đủ, việc làm hiệu quả, việc làm chính, việc làm phụ… nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi phân loại theo cơ cấu ngành kinh tế với 3 nhóm việc làm tương ứng với 3 khu vực kinh tế: Khu vực I: Việc làm trong nhóm ngành nông nghiệp và lâm nghiệp Khu vực II: Việc làm trong nhóm ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác mỏ, năng lượng Khu vực III: Việc làm trong nhóm ngành dịch vụ * Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm cho người lao động là việc tạo cho người lao động từ chỗ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, việc làm không đầy đủ trở thành người có việc làm và có thu nhập đảm bảo từ việc làm đó. Có thể phân tích một số khía cạnh liên quan đến giải quyết việc làm như sau: - Giải quyết việc làm là tạo ra chỗ làm việc mới cho người lao động có nhu cầu về việc làm và có khả năng đáp ứng yêu cầu của việc làm đó.
Khi người lao động hội tụ đủ những điều kiện này, học tham gia làm việc và có thu nhập từ việc làm đó. - Giải quyết việc làm là hỗ trợ người lao động tìm được việc làm phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ như: cung cấp thông tin về cơ hội việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho người lao động, tổ chức ngày hội hoặc 12 các sàn giao dịch việc làm để người lao động gặp gỡ người sử dụng lao động - Giải quyết việc làm còn là khuyến khích, tạo điều kiện cho người lao động tự tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm phù hợp với điều kiện, với khả năng và trình độ của bản thân. - Giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, những người chưa có việc làm và đang mong muốn được làm việc, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến lực lượng thanh niên - đối tượng mới gia nhập thị trường lao động. Đối với quốc gia có cơ cấu dân số và lực lượng sản xuất như nước ta, giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề quan trọng và cấp bách hàng đầu.
Điều 13, chương II, Bộ luật Lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”. Chủ trương của Đảng tại Đại hội XII: “Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập. Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động. Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng. Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng. Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý.
Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao động”. Từ những quan điểm chung về giải quyết việc làm cho người lao động, có thể đưa ra cách tiếp cận về giải quyết việc làm cho thanh niên với tư cách là một lực lượng lao động đặc thù như sau: Thứ nhất, giải quyết việc làm cho thanh niên là tạo ra chỗ làm việc phù hợp với lứa tuổi, trình độ, tay nghề và sức khỏe của lao động thanh niên. Ở trong độ 13 tuổi từ 16 đến 30, thanh niên đang trong giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhân cách.