Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số: 9310102) của nghiên cứu sinh Võ Thị Hồng Hạnh, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Văn Thắng (năm 2023), mang tên: "Vai trò Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, việc làm phản ánh "sức khỏe của nền kinh tế" và là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý kinh tế - xã hội. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (IR4) với các yếu tố cốt lõi như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và Internet vạn vật (IoT) đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất nông nghiệp từ phương thức thủ công, cơ giới hóa sang nông nghiệp thông minh, nông nghiệp số và nông nghiệp chính xác.
Tại Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn gắn liền với tái cơ cấu phân công lao động xã hội. Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng kinh tế trọng điểm, sở hữu lực lượng lao động khoảng 11,44 triệu người (chiếm gần 23% lực lượng lao động cả nước). Tuy nhiên, chất lượng lao động của vùng còn nhiều bất cập: gần 2/3 lực lượng lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật hoặc chưa có chứng chỉ; tỷ lệ lao động phi chính thức chiếm tới 57,1%; trên 1/3 lao động thuộc nhóm dễ bị tổn thương (lao động tự làm và lao động hộ gia đình). Bên cạnh đó, việc thực thi các chính sách thị trường lao động còn hạn chế: Quỹ Quốc gia về việc làm tập trung cho hộ gia đình vay vốn nhỏ lẻ, ít hỗ trợ doanh nghiệp tạo việc làm mới; công tác đào tạo nghề nông thôn chưa sát nhu cầu thị trường; hệ thống thông tin và dịch vụ việc làm chậm đổi mới, liên kết vùng lỏng lẻo.
Quá trình giải quyết việc làm (GQVL) cho lao động nông nghiệp (LĐNN) trước biến động của IR4 không phải là tiến trình "tự thân, tự nó", mà đòi hỏi vai trò can thiệp, định hướng và kiến tạo của Nhà nước. Mặc dù vậy, các công trình trước đây phần lớn chưa gắn vai trò Nhà nước (VTNN) với bối cảnh đặc thù của IR4, chưa xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện cả định tính và định lượng, cũng như chưa phân tích đầy đủ các nhân tố tác động mới như mức độ thích ứng công nghệ của bộ máy công quyền hay sự tham gia của người dân. Luận án được triển khai nhằm lấp đầy khoảng trống học thuật và thực tiễn này.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao VTNN đối với GQVL cho LĐNN tại vùng ĐBSH trong bối cảnh IR4.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng khung nghiên cứu, làm rõ nội hàm, nhân tố ảnh hưởng và hệ thống tiêu chí đánh giá VTNN đối với GQVL cho LĐNN trong bối cảnh IR4; tổng hợp kinh nghiệm trong nước và quốc tế.
- Phân tích thực trạng VTNN đối với GQVL cho LĐNN tại vùng ĐBSH giai đoạn 2017–2021; chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện VTNN đối với GQVL cho LĐNN vùng ĐBSH đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- (i) Nội hàm VTNN đối với GQVL cho LĐNN vùng ĐBSH trong bối cảnh IR4 gồm những nội dung gì?
- (ii) Những nhân tố nào ảnh hưởng tới VTNN đối với GQVL cho LĐNN vùng ĐBSH trong bối cảnh IR4?
- (iii) Trên thực tế, việc thực hiện vai trò này còn những hạn chế gì và nguyên nhân của những hạn chế đó là gì?
- (iv) Cần thực hiện những giải pháp nào để Nhà nước phát huy tốt hơn vai trò này trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: VTNN đối với GQVL cho LĐNN tại vùng ĐBSH trong bối cảnh IR4 dưới góc độ mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và thị trường.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận VTNN ở cấp trung ương kết hợp với chính quyền địa phương tại các tỉnh, thành phố thuộc ĐBSH. Việc làm và nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng (gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp). LĐNN bao gồm người từ 15 tuổi trở lên làm việc trong các ngành nông nghiệp tại cả khu vực nông thôn và thành thị.
- Phạm vi không gian: Vùng ĐBSH, tập trung khảo sát 3 địa bàn điển hình thuộc tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 5 năm liền kề (2017–2021); các giải pháp và kiến nghị định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan theo 4 nhóm chủ đề chính:
CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN
Nhóm 1: VTNN đối Nhóm 2: VTNN trong Nhóm 3: VTNN đối Nhóm 4: VTNN & GQVL
với phát triển lĩnh vực nông với GQVL cho lao trong bối cảnh
kinh tế nghiệp động nông nghiệp IR4
1. Các công trình về vai trò Nhà nước đối với phát triển kinh tế
Tổng quan chia thành 3 trường phái lớn:
- Trường phái thị trường tự do (Bàn tay vô hình): Đại diện tiêu biểu là Adam Smith (1723–1790), chủ trương Nhà nước chỉ thực hiện các chức năng cơ bản như bảo vệ trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và đầu tư hạ tầng công cộng thiết yếu, để thị trường tự điều tiết.
- Trường phái can thiệp (Bàn tay hữu hình): Tiêu biểu là John Maynard Keynes (1883–1946), nhấn mạnh sự can thiệp của Nhà nước vào tổng cầu, sử dụng chính sách tài khóa, tiền tệ và đầu tư công để hạn chế suy thoái và giảm thất nghiệp.
- Trường phái kết hợp cả hai bàn tay: Tiêu biểu qua các nghiên cứu của Paul Samuelson, Báo cáo Phát triển Thế giới (Ngân hàng Thế giới, 1997) và Báo cáo Việt Nam 2035 (2016). Các nghiên cứu này chỉ rõ Nhà nước cần chuyển đổi từ vai trò nhà sản xuất sang vai trò kiến tạo phát triển, thiết lập khuôn khổ pháp lý, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, kiểm soát tham nhũng và cung ứng dịch vụ công.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Vũ Văn Hà (2018, 2021), Phạm Ngọc Quang (2009), Phạm Việt Dũng (2017), Dương Thị Thục Anh (2013), Vũ Thị Hương Lan (2012), Võ Thị Hoa (2011), Mai Thị Hồng Liên (2019) và Nguyễn Đăng Dung (2006) đã phân tích các khía cạnh về Nhà nước kiến tạo, thực hiện công bằng xã hội, xây dựng bộ máy tinh gọn và nâng cao trách nhiệm giải trình.
2. Các công trình về vai trò Nhà nước trong nông nghiệp
- Chủ nghĩa trọng nông khẳng định Nhà nước cần ưu tiên đầu tư vào nông nghiệp và hỗ trợ nông dân.
- Steffen Abele (2003) nghiên cứu chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm và thuế đối với rủi ro nông nghiệp.
- Mai Lâm (2016) và Ngân hàng Thế giới (2016a) đề xuất Nhà nước giảm can thiệp trực tiếp vào thị trường nông sản, giảm bao cấp đất đai, tăng cường hợp tác công - tư (PPP) và tập trung thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh.
3. Các công trình về vai trò Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp
- Arthur Lewis (1955) với mô hình kinh tế nhị nguyên giải thích sự dịch chuyển lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang công nghiệp năng suất cao.
- Harry T. Oshima (1989) nghiên cứu thị trường lao động nông nghiệp châu Á gió mùa có tính thời vụ cao, đề xuất 3 giai đoạn can thiệp của Nhà nước: (1) Đầu tư theo chiều rộng để đa dạng hóa sản xuất, (2) Tạo việc làm đầy đủ gắn với thủy lợi và điện khí hóa, (3) Phát triển theo chiều sâu gắn với tự động hóa và khoa học kỹ thuật.
- Wayne Nafziger (2012) phân tích các loại hình thất nghiệp, thiếu việc làm và thất nghiệp trá hình do công nghệ không thích hợp và sự méo mó giá cả các yếu tố sản xuất.
- Trương Xuân Trường (2013), Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (1997), Nguyễn Văn Nhượng (2011), Dương Ngọc Thành và Nguyễn Minh Hiếu (2014), Phạm Thị Thu Lan (2021), Ngô Minh Tuấn (2015), Nguyễn Văn Tuân (2020), Nguyễn Hồng Sơn (2020), Nguyễn Thị Quyên (2018) đã làm rõ các chiều cạnh quản lý nhà nước, chính sách kết nối cung - cầu lao động và đào tạo nghề.
4. Các công trình gắn với bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
- Jacobs Juliet (2020) vận dụng lý thuyết các giai đoạn tăng trưởng của Rostow.
- Nguyễn Thắng (2016) phân tích tác động của IR4 tới thị trường lao động thông qua sự suy giảm lợi suất của lao động giản đơn và gia tăng lợi suất kỹ năng số.
- Tạ Việt Dũng và Trần Anh Tú (2017), Nguyễn Hoàng Hà (2018), Bùi Sỹ Lợi (2018), Đỗ Trung (2018), Nguyễn Minh Phương và Bùi Văn Minh (2018) nghiên cứu các kỹ năng lao động mới, sự xuất hiện của các quan hệ lao động phi truyền thống và yêu cầu chuyển đổi số bộ máy quản lý.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về VTNN đối với GQVL cho LĐNN đặt riêng trong bối cảnh IR4.
- Bổ sung 2 nhân tố ảnh hưởng mới: (i) Sự tham gia của người dân vào quy trình GQVL; (ii) Khả năng thích ứng của bộ máy Nhà nước đối với IR4.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết hợp cả định tính và định lượng về VTNN đối với GQVL cho LĐNN.
- Cung cấp dữ liệu thực chứng chuyên sâu về vùng ĐBSH (khảo sát thực địa tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm việc làm: Là mọi hoạt động lao động có ích, tạo ra thu nhập cho người lao động, được trả công bằng tiền hoặc hiện vật và không bị pháp luật cấm (Bộ luật Lao động Việt Nam). Khái niệm việc làm bền vững theo ILO (2018) nhấn mạnh năng suất lao động cao, thu nhập công bằng, an toàn lao động và bảo đảm quyền tham gia quyết định.
- Khái niệm giải quyết việc làm: Là quá trình tạo điều kiện và môi trường thuận lợi nhằm gia tăng cả số lượng việc làm và nâng cao chất lượng việc làm (tăng thu nhập, cải thiện điều kiện lao động, an sinh xã hội) cho người có khả năng và nhu cầu lao động.
- Nội hàm VTNN đối với GQVL cho LĐNN trong bối cảnh IR4: Là vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế về việc làm; sử dụng các công cụ, chính sách và nguồn lực công nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi để tăng quy mô việc làm, chuyển dịch cơ cấu việc làm và nâng cao chất lượng việc làm cho LĐNN thích ứng với tiến trình chuyển đổi số và công nghệ 4.0. Luận án phân biệt rõ: VTNN mang tính bao quát dưới góc độ kinh tế chính trị (quan hệ Nhà nước - thị trường), trong khi Quản lý nhà nước về việc làm (theo Điều 6 Luật Việc làm) là một phương thức, công cụ thực thi cụ thể của VTNN.
- Khung phân tích: Khái quát mối quan hệ tác động từ bối cảnh IR4 $\rightarrow$ Biến đổi trong lao động, việc làm nông nghiệp $\rightarrow$ Yêu cầu đối với GQVL $\rightarrow$ Xác định nội dung, nhân tố ảnh hưởng, tiêu chí đánh giá VTNN $\rightarrow$ Phân tích thực trạng tại ĐBSH $\rightarrow$ Đề xuất giải pháp và kiến nghị.
KHUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị và kinh tế học ứng dụng:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét VTNN trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, đặt sự vận động của thị trường lao động trong tiến trình phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Gạt bỏ những hiện tượng ngẫu nhiên để nắm bắt bản chất của mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong phân bổ nguồn lực lao động.
- Phương pháp lịch sử kết hợp logic; phân tích và tổng hợp: Hệ thống hóa lý luận, đánh giá thực trạng và xây dựng hệ thống luận cứ giải pháp.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, nhà quản lý về bộ tiêu chí và chính sách việc làm.
- Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng: Sử dụng thống kê mô tả, phân tích so sánh và điều tra xã hội học.
Nguồn tư liệu, chọn mẫu và xử lý dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám Thống kê, Báo cáo Điều tra Lao động Việc làm hàng năm của Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Thế giới, dữ liệu Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) và Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của 11 tỉnh, thành phố vùng ĐBSH giai đoạn 2015–2021.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát tại 3 địa bàn đại diện (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) - tam giác tăng trưởng kinh tế có mật độ dân số cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhưng tỷ lệ có việc làm khu vực nông nghiệp lại thấp, tạo nên tính điển hình nghiên cứu.
- Quy mô mẫu: Phát ra 300 phiếu, thu về 235 phiếu hợp lệ sau khi làm sạch:
- Nhóm 1 - Cán bộ quản lý nhà nước: 60 phiếu (Hà Nội: 30, Hải Phòng: 15, Quảng Ninh: 15), gồm đại diện Bộ LĐTBXH (10), Cục Việc làm (10), Sở LĐTBXH (20) và UBND các cấp (20).
- Nhóm 2 - Người lao động nông nghiệp: 175 phiếu (Hà Nội: 55, Hải Phòng: 60, Quảng Ninh: 60), gồm lao động trồng trọt (55), chăn nuôi (60), lâm nghiệp và ngư nghiệp (60).
- Thang đo: Thang đo Likert 5 mức độ (Khoảng cách giá trị = 0,8):
- 1,00 – 1,80: Rất không đồng ý / Rất không hài lòng / Rất không quan trọng
- 1,81 – 2,60: Không đồng ý / Không hài lòng / Không quan trọng
- 2,61 – 3,40: Ý kiến trung lập
- 3,41 – 4,20: Đồng ý / Hài lòng / Quan trọng
- 4,21 – 5,00: Rất đồng ý / Rất hài lòng / Rất quan trọng
- Công cụ xử lý: Phần mềm Microsoft Excel và SPSS để lập bảng thống kê mô tả và tính toán điểm trung bình.
| Đối tượng khảo sát |
Tổng số phiếu thu về |
Hà Nội |
Hải Phòng |
Quảng Ninh |
| Cán bộ quản lý nhà nước |
60 |
30 |
15 |
15 |
| - Cán bộ thuộc Bộ LĐTBXH |
10 |
5 |
2 |
3 |
| - Cán bộ thuộc Cục Việc làm |
10 |
5 |
2 |
3 |
| - Cán bộ thuộc Sở LĐTBXH |
20 |
10 |
5 |
5 |
| - Cán bộ thuộc UBND các tỉnh/thành phố |
20 |
10 |
5 |
5 |
| Người lao động nông nghiệp |
175 |
55 |
60 |
60 |
| - Lao động làm trồng trọt |
55 |
15 |
20 |
20 |
| - Lao động làm chăn nuôi |
60 |
20 |
20 |
20 |
| - Lao động làm lâm nghiệp, ngư nghiệp |
60 |
20 |
20 |
20 |
| Tổng cộng |
235 |
85 |
75 |
75 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu
Chương này thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế, nông nghiệp và GQVL cho LĐNN; chỉ ra các khoảng trống khoa học cần tiếp tục nghiên cứu trong bối cảnh IR4. Trên cơ sở đó, tác giả thiết kế phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp luận kinh tế chính trị Mác - Lênin với các công cụ điều tra khảo sát định lượng, xây dựng mẫu khảo sát 235 phiếu tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và quy trình thu thập, xử lý dữ liệu bằng SPSS và Excel.
Chương 2: Lý luận và vai trò Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi:
- Tác động của IR4 tới việc làm nông nghiệp: Thúc đẩy tự động hóa, cơ giới hóa chính xác (máy bay không người lái phun thuốc, san phẳng đồng ruộng bằng laser, cảm biến IoT theo dõi cây trồng), làm giảm mạnh nhu cầu đối với lao động cơ bắp, kỹ năng thấp; làm xuất hiện các việc làm phi truyền thống (thương mại điện tử nông sản, bán hàng livestream, logistics nông nghiệp số); làm chuyển dịch quan hệ lao động truyền thống sang hợp đồng linh hoạt, ngắn hạn.
- Yêu cầu mới đối với giải quyết việc làm: Triển khai chuyển đổi số nông nghiệp theo Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; thực hiện định hướng "mỗi nông dân là một thương nhân, mỗi hợp tác xã là một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số"; phát triển kỹ năng số cho lao động nông hộ nhỏ lẻ.
- Bốn nội dung cấu thành VTNN đối với GQVL cho LĐNN:
- Hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch GQVL thích ứng với IR4.
- Ban hành và hoàn thiện thể chế, luật pháp, chính sách việc làm và hỗ trợ chuyển đổi nghề.
- Tổ chức thực hiện chính sách GQVL (hệ thống dịch vụ việc làm, đào tạo nghề số, cung cấp thông tin thị trường lao động, hỗ trợ vốn và công nghệ).
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật lao động.
- Tiêu chí đánh giá VTNN: Kết hợp tiêu chí định tính (mức độ hoàn thiện thể chế, tính minh bạch, năng lực kiến tạo, chỉ số hài lòng của người dân, chỉ số PAPI) và tiêu chí định lượng (tỷ lệ việc làm, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo, tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp).
- Nhân tố ảnh hưởng: Bao gồm năng lực thể chế, trình độ cán bộ công chức, nguồn lực ngân sách, sự phối hợp giữa các cấp ngành, trình độ phát triển khoa học công nghệ; đặc biệt bổ sung 2 nhân tố mới là sự tham gia của người dân và khả năng thích ứng của bộ máy Nhà nước đối với IR4.
- Kinh nghiệm quốc tế và trong nước: Phân tích bài học từ các quốc gia chuyển đổi nông nghiệp công nghệ cao và các mô hình hỗ trợ việc làm tại các địa phương trong nước.
Chương 3: Thực trạng vai trò Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Chương 3 phân tích thực trạng kinh tế - xã hội và thị trường lao động ĐBSH giai đoạn 2017–2021:
- Đặc điểm thị trường lao động ĐBSH: Tỷ lệ dân số có việc làm đạt 69,9% (gần thấp nhất cả nước, chỉ cao hơn Đông Nam Bộ 67,1%); khu vực đô thị có tỷ lệ việc làm chỉ 59,6%. Tỷ lệ lao động có trình độ trên đại học chiếm 15% (trong đó Hà Nội đạt 24,6%), nhưng tỷ lệ lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo vẫn ở mức cao.
- Thực trạng thực hiện các nội dung VTNN:
- Hoạch định chiến lược, kế hoạch: Đã ban hành các quy hoạch phát triển vùng và đề án chuyển đổi số, tuy nhiên công tác dự báo cung - cầu lao động nông nghiệp theo yêu cầu của IR4 còn chậm và thiếu tính liên kết dài hạn.
- Ban hành chính sách: Hệ thống chính sách đất đai, tín dụng (Quỹ quốc gia về việc làm) và đào tạo nghề nông thôn theo Quyết định 1956 đã đạt kết quả bước đầu; tuy nhiên chính sách khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số đầu tư vào nông thôn chưa đủ mạnh, cơ chế hỗ trợ khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế.
- Tổ chức thực hiện: Mạng lưới Trung tâm Dịch vụ việc làm phân bổ chưa đều, hoạt động chắp nối cung - cầu lao động cho khu vực nông thôn chậm đổi mới; chuyển đổi số trong dịch vụ việc làm còn cục bộ; liên kết chia sẻ dữ liệu lao động giữa 11 tỉnh thành trong vùng chưa đồng bộ.
- Kiểm tra, giám sát: Hoạt động thanh tra việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động và thực thi chính sách hỗ trợ việc làm nông thôn đã được triển khai nhưng còn thiếu tính thường xuyên, trách nhiệm giải trình chưa cao.
- Đánh giá của các nhóm khảo sát: Kết quả khảo sát bằng thang đo Likert cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa cán bộ quản lý và người lao động nông nghiệp. Nhóm LĐNN đánh giá khắt khe hơn đối với hiệu lực bộ máy công quyền và năng lực thích ứng của cán bộ công chức cơ sở đối với các yêu cầu của công nghệ số.
| Nhóm nội dung khảo sát |
Điểm trung bình nhóm Cán bộ quản lý (N=60) |
Điểm trung bình nhóm Người lao động (N=175) |
| Đánh giá công tác hoạch định chiến lược, kế hoạch GQVL |
3,82 |
3,24 |
| Đánh giá công tác ban hành chính sách GQVL |
3,76 |
3,18 |
| Đánh giá công tác tổ chức thực hiện GQVL |
3,65 |
3,05 |
| Đánh giá công tác kiểm tra, giám sát GQVL |
3,58 |
2,96 |
| Đánh giá hiệu lực, tính tinh gọn và năng lực thích ứng của bộ máy |
3,71 |
2,88 |
- Nguyên nhân của những hạn chế: Nhận thức về tác động của IR4 đối với thị trường lao động nông nghiệp chưa đồng đều; tư duy quản lý hành chính nặng về mệnh lệnh hơn là kiến tạo; chất lượng nguồn nhân lực làm công tác lao động - việc làm cấp cơ sở chưa đáp ứng chuẩn kỹ năng số; cơ chế phân cấp, phân quyền và phối hợp liên tỉnh trong vùng ĐBSH còn lỏng lẻo.
Chương 4: Giải pháp nâng cao vai trò Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Chương 4 xác định bối cảnh mới, phương hướng và 5 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược và kế hoạch: Xây dựng chiến lược phát triển thị trường lao động nông nghiệp ĐBSH gắn với Chiến lược chuyển đổi số quốc gia và quy hoạch phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao; tăng cường năng lực dự báo biến động việc làm dưới tác động của AI và tự động hóa.
- Hoàn thiện thể chế và chính sách: Đổi mới chính sách đất đai nhằm thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất cho nông nghiệp quy mô lớn; hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính, thuế và tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp số; đổi mới chính sách đào tạo nghề nông thôn theo hướng đào tạo kỹ năng số, kỹ năng thương mại điện tử và kỹ năng vận hành thiết bị tự động.
- Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện: Hiện đại hóa hệ thống các Trung tâm Dịch vụ việc làm công; xây dựng sàn giao dịch việc làm trực tuyến thống nhất cho 11 tỉnh thành vùng ĐBSH; thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giám sát chính sách việc làm; nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp; tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và người dân dựa trên các chỉ số quản trị công (PAPI).
- Nâng cao năng lực nội tại của bộ máy Nhà nước: Tinh gọn tổ chức bộ máy quản lý lao động việc làm; chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ công chức theo chuẩn kỹ năng số và năng lực quản trị thích ứng; tăng cường sự phân cấp chủ động cho chính quyền các địa phương vùng ĐBSH, giảm ỷ lại vào ngân sách trung ương.
- Hệ thống kiến nghị cụ thể: Luận án đưa ra các kiến nghị chi tiết đối với Quốc hội (hoàn thiện Luật Việc làm, Luật Đất đai, Luật Lao động), Chính phủ (ban hành các nghị định, đề án phát triển thị trường lao động số), chính quyền 11 tỉnh thành vùng ĐBSH (chủ động phân bổ ngân sách, xây dựng cơ sở dữ liệu lao động địa phương) và các bộ ngành liên quan (Bộ LĐTBXH, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về phương diện lý luận
- Luận án đã luận giải và đưa ra quan niệm hoàn chỉnh về VTNN đối với GQVL cho LĐNN trong bối cảnh IR4 dưới góc độ kinh tế chính trị, làm rõ sự khác biệt bản chất giữa "vai trò Nhà nước" và "quản lý nhà nước".
- Kế thừa và bổ sung vào khung lý thuyết 2 nhân tố ảnh hưởng mới đến VTNN trong bối cảnh số: (1) Mức độ và nội hàm sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị, thực thi chính sách việc làm của Nhà nước; (2) Năng lực thích ứng công nghệ của bộ máy hành chính nhà nước đối với những biến đổi nhanh chóng của IR4.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá VTNN đối với GQVL cho LĐNN toàn diện, kết hợp hài hòa giữa các chỉ số vĩ mô định lượng (việc làm, thất nghiệp, chuyển dịch cơ cấu) và các chỉ số quản trị định tính (PAPI, sự hài lòng của người dân).
Đóng góp về phương diện thực tiễn
- Chỉ rõ vai trò cốt lõi nhất của Nhà nước trong bối cảnh mới không phải là trực tiếp bao cấp hay tạo việc làm, mà là kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi, khuyến khích lao động nông nghiệp chủ động đào tạo lại, nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề và tự tạo việc làm (khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo).
- Phát hiện thực nghiệm về độ lệch đánh giá (perception gap): Nhóm người lao động nông nghiệp có đánh giá khắt khe và chấm điểm thấp hơn đáng kể so với nhóm cán bộ quản lý nhà nước về tính tinh gọn, hiệu lực của bộ máy và năng lực quản lý thích ứng của đội ngũ công chức cấp cơ sở.
- Đưa ra hàm ý chính sách quan trọng: Nâng cao VTNN trước hết phải bắt đầu từ việc nâng cao sức mạnh nội tại của bộ máy công quyền, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chỉ số hài lòng của người dân; đồng thời kích hoạt tính chủ động, sáng tạo của các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH nhằm tạo sức lan tỏa cho cả nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Khảo sát sơ cấp mới tập trung vào 3 tỉnh, thành phố đại diện (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) với dung lượng mẫu 235 phiếu; chưa mở rộng điều tra toàn diện trên cả 11 tỉnh, thành phố của vùng ĐBSH do giới hạn về nguồn lực và thời gian.
- Các câu hỏi khảo sát chủ yếu sử dụng thang đo Likert 5 mức độ đóng, chưa thực hiện được nhiều cuộc phỏng vấn sâu định tính để khai thác toàn diện các góc nhìn tâm lý, nguyện vọng mở của người lao động.
- Dữ liệu chuỗi thời gian phân tích thực trạng chủ yếu dừng ở giai đoạn 2017–2021.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra xã hội học ra toàn bộ các tỉnh vùng ĐBSH và tiến hành nghiên cứu so sánh giữa vùng ĐBSH với các vùng kinh tế sinh thái khác (như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên).
- Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng định lượng nâng cao (hồi quy đa biến, mô hình cấu trúc tuyến tính SEM) để đo lường định lượng mức độ tác động của từng chính sách hỗ trợ công nghệ 4.0 tới thu nhập và sự ổn định việc làm của lao động nông nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều đối tượng:
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ LĐTBXH, Cục Việc làm, Bộ Nông nghiệp và PTNT, UBND các tỉnh ĐBSH): Chương 3 và Chương 4 cung cấp luận cứ thực tiễn và danh mục giải pháp cụ thể để hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân và phân bổ nguồn lực Quỹ Quốc gia về việc làm trong giai đoạn chuyển đổi số.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển: Chương 1 và Chương 2 cung cấp khung lý thuyết hệ thống, phương pháp tiếp cận kinh tế chính trị về Nhà nước kiến tạo và bộ công cụ đo lường kết hợp dữ liệu PAPI, PCI và thang đo Likert.
- Đối với các tổ chức dịch vụ việc làm, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp: Luận án gợi mở các định hướng về đổi mới mô hình đào tạo kỹ năng nghề số và phương thức kết nối việc làm thích ứng với thị trường số.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt "vai trò Nhà nước đối với giải quyết việc làm" và "quản lý nhà nước về việc làm" như thế nào?
Luận án tiếp cận VTNN dưới góc độ kinh tế chính trị, phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong phân bổ nguồn lực, định hướng và kiến tạo môi trường phát triển (bao gồm việc sử dụng các công cụ kinh tế, đầu tư công, chính sách vĩ mô để tác động đến cung - cầu lao động mà không làm méo mó thị trường). Trong khi đó, Quản lý nhà nước về việc làm (được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật Việc làm) là việc thực hiện các chức năng hành chính - pháp lý cụ thể như ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thanh tra, kiểm tra, cấp chứng chỉ và quản lý thông tin. Do đó, VTNN có nội hàm rộng hơn, và Quản lý nhà nước là một phương diện biểu hiện cụ thể của VTNN.
2. Hai nhân tố mới nào được tác giả bổ sung khi nghiên cứu vai trò Nhà nước trong bối cảnh IR4?
Tác giả đã kế thừa các nghiên cứu trước và bổ sung 2 nhân tố mới:
- Sự tham gia của người dân vào quá trình GQVL của Nhà nước: Xem xét nội hàm và vai trò của người dân với tư cách là người thụ hưởng và giám sát dịch vụ công, tạo sức ép nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền.
- Khả năng thích ứng của bộ máy Nhà nước đối với IR4: Phản ánh năng lực số, tính linh hoạt của thể chế và trình độ của đội ngũ cán bộ công chức trong việc ứng phó, điều chỉnh chính sách trước tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ.
3. Vì sao tác giả lựa chọn 3 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh làm địa bàn khảo sát sơ cấp?
Ba địa phương này tạo thành "tam giác tăng trưởng kinh tế" trọng điểm của vùng ĐBSH, giữ vai trò đầu tàu dẫn dắt và có sức lan tỏa kinh tế mạnh mẽ ra toàn vùng. Đây là khu vực có mật độ dân số cao, tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng lại tồn tại nghịch lý là tỷ lệ dân số có việc làm thấp nhất vùng (Hà Nội: 66,3%, Quảng Ninh: 67,0%, Hải Phòng: 67,4% năm 2020), do đó nhu cầu giải quyết việc làm tại 3 địa bàn này mang tính cấp thiết và có tính đại diện cao cho các chuyển dịch của vùng ĐBSH.
4. Kết quả khảo sát thực tế chỉ ra điểm khác biệt nổi bật nào giữa nhóm cán bộ quản lý và người lao động nông nghiệp?
Khi đánh giá cùng một hệ thống tiêu chí trên thang đo Likert, nhóm người lao động nông nghiệp luôn cho điểm trung bình thấp hơn đáng kể so với nhóm cán bộ quản lý nhà nước. Người lao động thể hiện thái độ khắt khe hơn đối với hiệu lực hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở, chất lượng cán bộ công chức theo chuẩn năng lực số và tính thực chất của các chương trình đào tạo nghề nông thôn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Võ Thị Hồng Hạnh (2023) đã hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về vai trò Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với dữ liệu khảo sát thực tế tại vùng Đồng bằng sông Hồng, tác giả đã chỉ rõ các nút thắt về thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực thích ứng của bộ máy quản lý. Công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ chuyển đổi vai trò Nhà nước từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách lao động, việc làm và an sinh xã hội tại Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.