đặt vấn đề”, cụ thể hơn đó là sự nêu lên VĐ mới. Cũng quan điểm này, Einstein đã đưa ra luận điểm khá độc đáo. Theo ông, việc thiết lập VĐ quan trọng hơn quá trình giải quyết VĐ vì giải quyết VĐ chỉ là công việc của KN toán học hay kinh nghiệm. Nêu lên được VĐ mới, những khả năng mới, nhìn nhận những VĐ dưới góc độ mới đòi hỏi phải có trí tưởng tượng và nó đánh dấu bước tiến bộ của khoa học.
Thứ ba, bản chất của ST là hoạt động cao nhất của con người. Bộ não không những là một cơ quan gần gũi và tái hiện kinh nghiệm cũ của chúng ta, nó còn là cơ quan phối hợp, chỉnh lí một cách ST và xây dựng nên những tình thế mới bằng những kinh nghiệm cũ đã hình thành trước đó (Huỳnh Văn Sơn, 2009). Luan van 11 Theo R.L Solsor: “Sự ST là một hoạt động nhận thức mà nó đem lại một cách nhìn nhận hay giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay tình huống có vấn đề” (Trần Trọng Thủy, 2000). Điều này cho thấy hoạt động ST được thể hiện khi HS đối mặt với VĐ và HS ST dựa trên NL tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, xúc cảm, động cơ và ý chí.
Đối với HS trong hoạt động giải quyết VĐ: NL ST là các khả năng hình thành ý tưởng mới, đề xuất được giải pháp mới hay cải tiến cách làm mới một sự vật, có các giải pháp khác nhau để giải quyết một VĐ, sự tò mò, thích đặt các câu hỏi để khám phá sự vật xung quanh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014). Tuy nhiên trong quá trình học tập, những ý tưởng gì HS “tự nghĩ ra” khi GV chưa dạy mà HS tự đọc sách hoặc trao đổi với bạn bè mà phát biểu được đều coi như có mang tính ST. ST là sự phát triển cao nhất của NL nhận thức mà ở đó bản thân HS phải tự tìm thấy con đường logic dẫn đến kết quả từ các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của bản thân. Trên cơ sở khái niệm NLGQVĐ và NLST đã trình bày ở trên, chúng tôi quan niệm đối với HS THPT: NLGQVĐ&ST là khả năng nhận thức của cá nhân HS hình thành các ý tưởng khi đối mặt với tình huống có VĐ, độc lập tư duy và tự lực giải quyết VĐ mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp có sẵn thông thường.
Cách tốt nhất để hình thành và phát triển NL của HS là đặt HS vào vị trí chủ thể của hoạt động tự lực, thái độ tích cực chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện các KN để phát triển NL và mong muốn tìm hiểu khoa học, vận dụng chúng để đạt được những điều tốt đẹp trong học tập và cuộc sống. Như vậy trách nhiệm của người GV là tìm ra biện pháp hữu hiệu để rèn luyện NLGQVĐ&ST cho HS trong quá trình dạy học. Những biện pháp này cần tác động mạnh vào các yếu tố nền tảng để phát triển NLGQVĐ&ST cho HS như: Hứng thú: mức độ hứng thú, sự tập trung chú ý và động lực khao khát mong muốn GQVĐ để tìm hiểu khoa học. Kiến thức: lí thuyết hoá học và lí thuyết quá trình GQVĐ liên quan đến hoá học và những VĐ vận dụng kiến thức hoá học liên quan đến thực tiễn đời sống.
Luan van 12 Môi trường thuận lợi: HS được rèn luyện các thao tác tư duy, tự lực GQVĐ trong TH có VĐ GV tạo ra. Biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 07/2017), những biểu hiện của NL GQVĐ&ST của HS THPT được thể hiện qua bảng 1. Những biểu hiện/ tiêu chí của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trung học phổ thông NL thành phần Biểu hiện/ Tiêu chí Phân tích được TH trong học tập, trong cuộc sống; phát Phát hiện và làm rõ hiện và nêu được TH có VĐ (TH có VĐ) trong học tập, VĐ trong cuộc sống. Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến VĐ; Đề xuất, lựa chọn đề xuất và phân tích được một số giải pháp GQVĐ; Lựa giải pháp chọn được giải pháp phù hợp nhất.
Thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ; Suy ngẫm về Thực hiện và đánh giá cách thức và tiến trình GQVĐ để điều chỉnh và vận dụng giải pháp GQVĐ trong bối cảnh mới. Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; Phân tích các nguồn Nhận ra ý tưởng mới thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới. Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; Suy nghĩ không theo lối mòn; Tạo ra yếu tố mới dựa trên Hình thành và triển khai những ý tưởng khác nhau; Hình thành và kết nối các ý ý tưởng mới tưởng; Nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh; Đánh giá rủi ro và có dự phòng. Đặt được nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; Không thành kiến khi xem Tư duy độc lập xét, đánh giá VĐ; Quan tâm tới các lập luận và minh chứng thuyết phục; Sẵn sàng xem xét, đánh giá lại VĐ.
Các quy luật trí não theo John Medina và ý tưởng vận dụng trong dạy học 1. Đôi nét về tác giả John Medina và cuốn sách Luật trí não “Brain Rules” John Medina là nhà sinh học phân tử phát triển và là nhà nghiên cứu về sự phát triển của não người. Hiện ông là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Quy luật Trí não trong Học tập của Trường Đại học Seattle Pacific. Ông cũng tham gia giảng dạy tại khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Y khoa Washington.
Ông không chỉ thành công trên cương vị một nhà khoa học được viện hàn lâm Quốc gia phong tặng danh hiệu học giả năm 2004 mà còn là một người thầy rất được yêu quý (Ông liên tục giành giải thưởng Thầy giáo của năm do Hội Sinh viên ngành Công nghệ sinh học bầu chọn). Giáo sư John Medina có một niềm say mê suốt đời với việc nghiên cứu cách thức hoạt động của bộ não khi phản ứng với thông tin và tổ chức thông tin. Ông rất quan tâm đến việc thúc đẩy sự hợp tác nghiên cứu giữa hai ngành khoa học trí não và giáo dục để có được những biện pháp tốt nhất vận dụng trong quá trình dạy học và phương thức giáo dục ở nhà trường và trong cuộc sống. Cuốn sách Brain Rules của John Medina được xuất bản đầu tiên vào năm 2008, tuy nhiên đến nay vẫn là một cuốn sách được ưa chuộng.
Cuốn sách được nhà xuất bản Thế Giới phát hành và tái bản hàng năm với tên Luật trí não, Mai Khanh dịch. John Medina đề cập đến 12 quy luật về cách thức hoạt động của bộ não và ông gọi chúng là các quy luật trí não. 12 quy luật trí não bao gồm: + Quy luật 1: Luyện tập thể chất giúp tăng cường năng lực trí não + Quy luật 2: Não người cũng tiến hoá + Quy luật 3: Mỗi bộ não được kết nối khác nhau + Quy luật 4: Chúng ta không chú ý đến những điều nhàm chán + Quy luật 5: Nhắc lại để nhớ + Quy luật 6: Nhớ để nhắc lại + Quy luật 7: Ngủ tốt, suy nghĩ tốt Luan van 14 + Quy luật 8: Những bộ não bị căng thẳng học tập không giống nhau + Quy luật 9: Kích thích nhiều giác quan + Quy luật 10: Thị giác là quân bài chủ trong tất cả các giác quan + Quy luật 11: Bộ não của đàn ông và phụ nữ khác nhau + Quy luật 12: Chúng ta là những nhà thám hiểm mạnh mẽ và tự nhiên Mỗi chương trong cuốn sách được trình bày một cách hấp dẫn và lôi cuốn. Mở đầu, John Medina giải thích những thông tin khoa học về bộ não kết hợp với các ví dụ thực tế, những câu chuyện y khoa, từ đó nảy sinh ra các ý tưởng trong đó có rất nhiều ý tưởng có thể vận dụng trong học tập.
Ở cuối mỗi chương đều có phần tóm tắt ngắn gọn mà giúp người đọc có thể tập trung vào các nội dung và có những ý tưởng vận dụng được ngay. Trịnh Minh Giang – Giám đốc hệ thống giáo dục VIP school đã ca ngợi: “Cuốn Brain Rules của John Medina là một bài giảng sống động về quy luật của trí não. Lối hành văn dễ hiểu và có tính đối thoại cao của tác giả giúp cho người đọc trở thành những người tự học qua sách một cách tự nhiên và tự nguyện. Một số quy luật trí não và ý tưởng vận dụng trong dạy học 1.
Quy luật 1: Luyện tập thể chất giúp tăng cường năng lực trí não – Mô tả quy luật: Hoạt động rèn luyện thể chất trong quá trình học thực sự giúp người học nâng cao khả năng nhận thức, nếu thực hiện có hiệu quả sẽ giúp cho nhiều ý tưởng mới nảy sinh. Điều này đã được tác giả kiểm chứng thông qua những trắc nghiệm thần kinh. Ông đã khẳng định: “Những người thường xuyên rèn luyện cơ thể có thể nâng cao NL nhận thức, đôi khi rất đáng kinh ngạc, so với những người không chịu vận động” (John Medina, 2018) tr. Nếu chúng ta thường xuyên vận động sẽ có khả năng ghi nhớ dài hạn, khả năng lập luận, cả sự chú ý và cách giải quyết VĐ luôn tốt hơn khi “ngồi lì” một chỗ.
Ngay cả với những VĐ mới thì vận động trong khi giải quyết cũng tăng cường khả năng gợi nhớ và sử dụng những dữ kiện liên quan đến kiến thức đã học từ trước. – Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Để cải thiện các KN suy nghĩ, phải vận động và rèn luyện thể chất thường xuyên. Có thể vận dụng tích hợp vào các hoạt động khởi động, hoạt động nhóm, trò chơi có tính tốc độ. Quy luật 2: Não người cũng tiến hoá – Mô tả quy luật: Theo Medina, não bộ luôn phát triển để thích nghi với cuộc sống tự nhiên thật sự khắc nghiệt.
"Não dường như được tạo ra để giải quyết các VĐ có liên quan tới sự sống còn trong một môi trường luôn luôn thay đổi, và nó thực hiện chức năng ấy trong sự vận động gần như không ngừng nghỉ." (John Medina, 2018, tr. Medina cũng giới thiệu về cấu trúc của bộ não. Mỗi phần đảm nhận một chức năng riêng và khi đối mặt với một VĐ, từng phần của bộ não sẽ chi phối suy nghĩ, cảm xúc và các hành động của chúng ta để thực hiện GQVĐ.