Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tranh chấp tư cách thành viên phát sinh từ các giao dịch góp vốn, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và trả nợ bằng phần vốn góp là loại tranh chấp kinh doanh, thương mại xuất hiện từ đầu những năm 1990 gắn liền với sự ra đời của Luật Công ty trong tiến trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam. Trong cơ cấu nền kinh tế, các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng chủ yếu. Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên được các nhà đầu tư lựa chọn phổ biến do kết hợp hài hòa hai yếu tố: tính chất đối nhân (các thành viên có mối quan hệ quen biết, tin cậy lẫn nhau, mong muốn gắn bó lâu dài) và tính chất đối vốn (chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản, giúp phân tán rủi ro đầu tư). Cùng với sự gia tăng về số lượng và quy mô hoạt động của loại hình này, các mâu thuẫn nội bộ về quyền sở hữu vốn và tư cách pháp lý của thành viên ngày càng phức tạp.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Hoàng Như tập trung giải quyết vấn đề bất cập trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp hiện hành: các quy định về xác lập, thay đổi và chấm dứt tư cách thành viên vẫn còn nhiều khoảng trống pháp lý, trong khi thực tiễn xét xử tại Tòa án cho thấy việc áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan còn gặp nhiều vướng mắc.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Nghiên cứu toàn diện các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 liên quan đến tranh chấp tư cách thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
- Phân tích các điểm tiến bộ cũng như chỉ ra những khoảng trống, bất cập còn tồn tại trong quy định của luật thực định.
- Đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý về doanh nghiệp, góp phần phòng ngừa và giải quyết hiệu quả tranh chấp.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, cơ chế bảo đảm thực thi các quyền, nghĩa vụ đó và thực tiễn xét xử tại Tòa án. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong phạm vi các quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam (không đi sâu vào các lĩnh vực chuyên ngành như chứng khoán, ngân hàng hay đầu tư) và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thông qua hệ thống Tòa án nhân dân các cấp.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định và các công trình khoa học chuyên ngành, bao gồm:
- Văn bản pháp luật: Luật Doanh nghiệp năm 2020 (trọng tâm là các Điều 17, 28, 30, 46, 47, 48, 49, 51, 52, 53, 55, 128, 129); Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Doanh nghiệp năm 2005; Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 74, 105, 457, 458, 611); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (khoản 3 Điều 30); Luật Thương mại năm 2005 (khoản 1 Điều 3); Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và Nghị định số 122/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.
- Tài liệu học thuật tham khảo: Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh (Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2013); các công trình nghiên cứu và sách chuyên khảo của ThS. Lê Nhật Bảo (2019), PGS.TS. Dương Anh Sơn (2005), TS. Nguyễn Thị Dung (2010); luận văn thạc sĩ của Lê Thị Hiền (2010), Lê Tự (2007), Phạm Thị Kim Phượng (2010); cùng các khóa luận cử nhân chuyên sâu của Hoàng Thảo Ngân (2017), Trần Thị Kim Nga (2013), Trương Minh Thông (2021).
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành luật học bao gồm phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp so sánh luật học, phương pháp chứng minh và tổng hợp; kết hợp với phương pháp xã hội học (tham khảo ý kiến của những người làm công tác thực tiễn) và phương pháp phân tích tình huống (case study) dựa trên các bản án thực tế giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân.
- Nguồn dữ liệu: Các hồ sơ vụ việc thực tế, bản án sơ thẩm và phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và các Tòa án nhân dân có thẩm quyền khác tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát về tranh chấp tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về công ty TNHH hai thành viên trở lên, xác định các đặc tính pháp lý nền tảng: tư cách pháp nhân độc lập kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015); chế độ trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp; giới hạn thành viên từ 02 đến 50 chủ thể; và tính chất đan xen giữa đối vốn và đối nhân.
Tư cách thành viên được định nghĩa là sự công nhận về mặt pháp lý đối với cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty, gắn liền với các quyền quản trị, quyền tài sản và nghĩa vụ tương ứng. Khóa luận phân tích 3 loại chứng cứ pháp lý chứng minh tư cách thành viên: (1) Giấy chứng nhận phần vốn góp (khoản 6 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020); (2) Sổ đăng ký thành viên (Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2020); và (3) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Điều 28 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Tác giả nhận định trong thực tế, các doanh nghiệp thường lơ là việc cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp ngay sau khi thành viên góp vốn, tạo ra rủi ro pháp lý tiềm ẩn.
Về phương diện tố tụng, tranh chấp tư cách thành viên thuộc nhóm tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ("Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty"). Chủ thể tranh chấp bao gồm: thành viên hiện hữu, người chưa phải là thành viên và chính công ty. Đối tượng tranh chấp cốt lõi là thời điểm xác lập quyền và nghĩa vụ thành viên.
Tác giả phân loại tranh chấp thành 5 nhóm dựa trên phương thức hình thành tư cách thành viên:
- Tranh chấp liên quan đến thực hiện nghĩa vụ góp vốn: Phân hóa thành tranh chấp do góp vốn thực tế (đã giao tài sản nhưng công ty không ghi nhận vào sổ đăng ký thành viên hay cơ sở dữ liệu đăng ký kinh doanh) và tranh chấp do không góp vốn theo cam kết (thành viên danh nghĩa đứng tên khống trên hồ sơ pháp lý).
- Tranh chấp liên quan đến chuyển nhượng phần vốn góp: Xoay quanh giá trị hợp lý của hợp đồng, việc tuân thủ quyền ưu tiên mua của thành viên còn lại (Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020) và thời điểm phát sinh quyền thành viên của bên mua.
- Tranh chấp liên quan đến thừa kế phần vốn góp: Mâu thuẫn giữa quy định thừa kế tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015 và sự kiểm soát nhân thân của Hội đồng thành viên công ty TNHH.
- Tranh chấp liên quan đến tặng cho phần vốn góp: Phân biệt giữa tặng cho người thân thích thuộc hàng thừa kế đến hàng thứ ba (đương nhiên trở thành thành viên) và tặng cho đối tượng khác (phải được Hội đồng thành viên chấp thuận theo khoản 6 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020).
- Tranh chấp liên quan đến trả nợ bằng phần vốn góp: Xung đột lợi ích khi chủ nợ nhận thanh toán bằng vốn góp nhưng không được Hội đồng thành viên chấp thuận kết nạp làm thành viên (khoản 7 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020).
| Phương thức xác lập |
Điều kiện trở thành thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2020 |
Rủi ro pháp lý dẫn đến tranh chấp |
| Góp vốn thành lập / bổ sung |
Góp đủ tài sản trong 90 ngày; ghi thông tin vào sổ đăng ký thành viên (khoản 5 Điều 47). |
Góp vốn thực tế nhưng công ty chây ì cấp giấy chứng nhận; thành viên mượn danh nghĩa không góp vốn thật. |
| Nhận chuyển nhượng |
Tuân thủ thủ tục chào bán nội bộ; ghi thông tin vào sổ đăng ký thành viên (khoản 2 Điều 52). |
Công ty chậm cập nhật sổ đăng ký thành viên; bên chuyển nhượng hưởng lợi hai đầu hoặc bội ước. |
| Hưởng thừa kế |
Người thừa kế theo pháp luật hoặc di chúc đương nhiên là thành viên (khoản 1 Điều 53). |
Di chúc bị tranh chấp; người thừa kế từ chối làm thành viên nhưng không chuyển nhượng/thoái vốn. |
| Nhận tặng cho |
Đương nhiên là thành viên nếu là người thân (hàng 1-3); người khác phải được Hội đồng thành viên chấp thuận (khoản 6 Điều 53). |
Tặng cho người chưa thành niên gây khó khăn quản trị; Hội đồng thành viên kéo dài không ra quyết định chấp thuận. |
| Trả nợ bằng vốn góp |
Phải được Hội đồng thành viên chấp thuận; nếu không thì chỉ được chào bán/chuyển nhượng (khoản 7 Điều 53). |
Luật không quy định thời hạn Hội đồng thành viên phải biểu quyết; quyền lợi chủ nợ bị đóng băng. |
Chương II: Thực trạng tranh chấp tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và một số kiến nghị
Chương II đi sâu mổ xẻ thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các vụ án điển hình và chỉ rõ các vướng mắc lập pháp:
1. Thực trạng và kiến nghị đối với tranh chấp chuyển nhượng phần vốn góp:
Tác giả phân tích hai vụ án thực tế:
- Vụ thứ nhất (tranh chấp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương): Bà Nguyễn Thị T sở hữu 40% vốn điều lệ (tương đương 2.000.000.000 đồng trên danh nghĩa tại Công ty TNHH Sam H). Bà T chuyển nhượng cho bà Hồ Thị B theo hợp đồng công chứng ghi 2.000.000.000 đồng nhưng giá thỏa thuận thực tế là 7.000.000.000 đồng. Bà B đã thanh toán 4.000.000.000 đồng; số tiền 3.000.000.000 đồng còn lại thỏa thuận thanh toán sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký thay đổi thành viên trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, bà T và công ty không thực hiện thủ tục thay đổi; sau đó bà T tự gửi thông báo hủy hợp đồng và từ chối hoàn trả 4.000.000.000 đồng đã nhận. Tòa án đã xét xử buộc bà T phải hoàn trả toàn bộ 4.000.000.000 đồng cho bà B do giao dịch không thể tiếp tục thực hiện.
- Vụ thứ hai (tranh chấp tại Công ty TNHH Dược M1): Ông Trần Minh P ký hai hợp đồng chuyển nhượng 25% vốn góp (chia đều cho ông Nguyễn Thành T 12,5% trị giá 250.000.000 đồng và ông Tăng Phước N 12,5% trị giá 250.000.000 đồng). Hội đồng thành viên đã ban hành Nghị quyết số 01/QĐ chấp thuận chuyển nhượng. Tuy nhiên bên mua không thanh toán; ông P khởi kiện đòi tiền. Tòa án bác bỏ yêu cầu của ông P vì qua đối chiếu tài liệu kế toán, ông P chưa từng góp 500.000.000 đồng vào công ty (vốn khống), việc ghi tên ông P trên đăng ký kinh doanh chỉ mang tính thủ tục; bên mua chưa được cấp tư cách thành viên và chưa hưởng lợi nên không có nghĩa vụ trả tiền.
Từ hai vụ án, tác giả tổng kết 3 quan điểm pháp lý về thời điểm xác lập tư cách thành viên của bên nhận chuyển nhượng:
- Xác định tại thời điểm cơ quan đăng ký kinh doanh điều chỉnh nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
- Xác định tại thời điểm công ty xác nhận hoàn tất (ghi nhận vào sổ đăng ký thành viên hoặc có biên bản họp Hội đồng thành viên).
- Xác định theo hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng vốn.
Tác giả phản đối quan điểm 1 vì đăng ký kinh doanh chỉ mang tính thủ tục quản lý nhà nước; đồng thời chỉ ra bất cập của quan điểm 2 (hiện được luật hóa tại khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020) vì trao toàn bộ quyền định đoạt cho công ty, dẫn đến tình trạng bên bán (nếu là người quản lý) nhận tiền xong cố tình trì hoãn ghi sổ để tiếp tục hưởng quyền lợi. Đồng thời, chế tài hành chính tại khoản 5 Điều 44 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP (phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) là quá nhẹ, không đủ sức răn đe và thiếu quy định về bồi thường thiệt hại.
2. Thực trạng và kiến nghị đối với tranh chấp thừa kế, tặng cho, trả nợ bằng vốn góp:
- Về thừa kế: Luật Doanh nghiệp năm 2020 không quy định thời điểm cụ thể phát sinh tư cách thành viên của người thừa kế. Quy định tại khoản 4 Điều 53 cho phép người thừa kế từ chối làm thành viên nhưng luật không ấn định thời hạn họ phải chào bán hoặc yêu cầu công ty mua lại. Điều này dẫn đến tình trạng "treo vốn": người thừa kế không tham gia quản trị nhưng vẫn giữ quyền tài sản, khiến các cuộc họp Hội đồng thành viên bị đình trệ về tỷ lệ biểu quyết. Tác giả dẫn chứng vụ tranh chấp tại Công ty TNHH Sản xuất giày S (ông Ngô Cảnh T để lại di chúc 19,20% vốn cho vợ, các con và bà Nguyễn Thị Minh P; người đại diện pháp luật của công ty nghi ngờ tính xác thực của di chúc công chứng nên từ chối làm thủ tục thay đổi thành viên, dẫn đến vụ kiện kéo dài).
- Về tặng cho: Khoản 6 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cho phép người thân thuộc diện thừa kế đến hàng thứ ba đương nhiên trở thành thành viên mà không cho phép Điều lệ hạn chế điều kiện (chẳng hạn trường hợp người chưa thành niên 17 tuổi được tặng toàn bộ vốn góp đương nhiên có quyền biểu quyết quản trị). Đối với người ngoài, việc luật không quy định thời hạn tối đa Hội đồng thành viên phải trả lời chấp thuận hay từ chối (trong khi thủ tục mua lại vốn tại Điều 51 quy định rõ thời hạn 15 ngày) đẩy người nhận tặng cho vào thế bị động, đối mặt rủi ro phần vốn bị các thành viên khác pha loãng hoặc tẩu tán giá trị.
- Về trả nợ: Tương tự như tặng cho, khoản 7 Điều 53 bỏ ngỏ thời hạn để Hội đồng thành viên ra quyết định chấp thuận chủ nợ trở thành thành viên, tước đoạt quyền định đoạt kịp thời của chủ nợ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:
- Làm rõ bản chất pháp lý của tư cách thành viên: Chứng minh tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên là một dạng quyền tài sản đặc thù gắn liền với quyền nhân thân phi tài sản (quyền quản trị, tiếp cận thông tin, biểu quyết), không thể tách rời sự vận hành nội bộ của doanh nghiệp.
- Chỉ ra các xung đột pháp lý giữa luật chung và luật chuyên ngành: Luận giải sự vênh lệch giữa quy định về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 458 về tặng cho động sản, Điều 611 về thời điểm mở thừa kế) với thời điểm phát sinh quyền thành viên theo Luật Doanh nghiệp năm 2020.
- Hệ thống hóa thực tiễn xét xử: Khảo sát và phân tích bản chất pháp lý của tranh chấp qua các tình huống thực tế tại Tòa án (Công ty Sam H, Công ty Dược M1, Công ty Giày S), từ đó chỉ ra những vướng mắc mà cơ quan xét xử gặp phải khi áp dụng khoản 3 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp lập pháp thực chất:
- Sửa đổi khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020: Quy định thời điểm xác lập tư cách thành viên của bên nhận chuyển nhượng là khi các bên hoàn tất giao dịch và gửi văn bản thông báo yêu cầu công ty cập nhật sổ đăng ký thành viên.
- Bổ sung quy định thời hạn tối đa mà Hội đồng thành viên phải ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối tư cách thành viên đối với bên nhận tặng cho và bên nhận trả nợ bằng phần vốn góp.
- Quy định thời hạn hợp lý buộc người thừa kế phải đưa ra quyết định tiếp nhận tư cách thành viên hoặc hoàn tất việc chuyển nhượng/yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp để chấm dứt tình trạng tê liệt hoạt động quản trị.
- Sửa đổi Nghị định số 122/2021/NĐ-CP theo hướng nâng cao mức xử phạt hành chính đối với hành vi chậm trễ cập nhật sổ đăng ký thành viên và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; đồng thời bổ sung cơ chế bồi thường thiệt hại dân sự đối với người quản lý cố tình vi phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung giới hạn trong phạm vi các tranh chấp được giải quyết thông qua con đường Tòa án nhân dân, chưa mở rộng khảo sát thực tiễn giải quyết thông qua Trọng tài thương mại hoặc hòa giải thương mại. Ngoài ra, nguồn dữ liệu án lệ và hồ sơ tranh chấp chủ yếu dựa trên các vụ án điểm được tiếp cận có chọn lọc, chưa thực hiện được thống kê định lượng trên diện rộng trên phạm vi toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa pháp luật doanh nghiệp với pháp luật thi hành án dân sự và phá sản trong việc xử lý phần vốn góp của thành viên; nghiên cứu sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người đại diện theo pháp luật khi lạm quyền từ chối ghi nhận thành viên mới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại: Tham khảo hệ thống luận điểm về cấu trúc công ty TNHH hai thành viên trở lên, kỹ năng đối chiếu các quy phạm giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2020.
- Người nghiên cứu và luật sư hành nghề: Đáng chú ý ở phần phân tích thực tiễn xét xử trong Chương II; cung cấp cơ sở lý luận để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong các giao dịch chuyển nhượng vốn nhưng công ty chậm làm thủ tục sang tên.
- Các sáng lập viên, nhà quản lý doanh nghiệp: Tham khảo để chủ động xây dựng Điều lệ công ty chặt chẽ hơn, đặc biệt là việc dự liệu các điều khoản về điều kiện của người nhận tặng cho vốn góp, thời hạn tổ chức họp Hội đồng thành viên khi có sự kiện thừa kế hoặc trả nợ bằng phần vốn góp.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, tư cách thành viên của người nhận chuyển nhượng phần vốn góp được xác lập từ thời điểm nào và quy định này gây bất cập gì?
Căn cứ khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020, tư cách thành viên của người nhận chuyển nhượng chỉ được xác lập kể từ khi thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. Bất cập phát sinh ở chỗ quy định này phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của công ty. Nếu người chuyển nhượng là người quản lý công ty, sau khi đã nhận đủ tiền bán vốn, họ có thể cố tình trì hoãn ghi sổ để tiếp tục duy trì quyền biểu quyết và hưởng lợi nhuận, trong khi người mua dù đã thanh toán toàn bộ tiền nhưng không có bất kỳ quyền thành viên nào.
2. Tại sao Tòa án bác bỏ yêu cầu đòi thanh toán tiền chuyển nhượng vốn của ông Trần Minh P trong vụ án Công ty TNHH Dược M1?
Tòa án bác bỏ yêu cầu của ông P vì các tài liệu chứng cứ cho thấy ông P thực tế chưa hề góp 500.000.000 đồng vào công ty; tên của ông P trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ mang tính hình thức. Do ông P chưa hoàn thành nghĩa vụ góp vốn nên phần vốn góp chuyển nhượng chưa tồn tại thực tế về mặt tài sản. Hợp đồng chuyển nhượng chưa có hiệu lực pháp luật, bên mua (ông T và ông N) chưa được công nhận tư cách thành viên và chưa nhận bất kỳ lợi ích nào từ công ty nên không phát sinh nghĩa vụ thanh toán cho ông P.
3. Quy định tại khoản 6 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về tặng cho phần vốn góp tồn tại những điểm vướng mắc nào?
Thứ nhất, luật quy định người nhận tặng cho thuộc diện người thân (hàng thừa kế đến hàng thứ ba) đương nhiên trở thành thành viên mà không cho phép Điều lệ công ty đặt ra điều kiện về độ tuổi, chuyên môn; dẫn đến trường hợp người chưa thành niên (như con 17 tuổi) nhận tặng cho vốn cũng có quyền can thiệp vào quản trị công ty, làm suy giảm tính liên kết nội bộ. Thứ hai, đối với người nhận tặng cho ngoài diện người thân, luật buộc phải có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên nhưng lại không quy định thời hạn tối đa Hội đồng thành viên phải tổ chức họp và ra quyết định trả lời, khiến quyền tài sản của bên được tặng cho bị đình trệ vô thời hạn.
4. Khi người thừa kế từ chối trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, pháp luật hiện hành bộc lộ lỗ hổng gì?
Theo khoản 4 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020, nếu người thừa kế không muốn trở thành thành viên thì phần vốn góp được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo Điều 51, Điều 52. Lỗ hổng pháp lý là luật không quy định thời hạn tối đa buộc người thừa kế phải thực hiện thủ tục yêu cầu mua lại hoặc chào bán. Trong khoảng thời gian này, người thừa kế chỉ có quyền tài sản đối với di sản nhưng không phải là thành viên, tạo ra khoảng trống quản trị khi các cuộc họp Hội đồng thành viên không thể tính toán chính xác tỷ lệ đại diện vốn biểu quyết hợp lệ.
5. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi công ty không đăng ký thay đổi thành viên hiện nay là bao nhiêu và tác giả đánh giá như thế nào?
Căn cứ khoản 5 Điều 44 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với hành vi không đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Tác giả đánh giá mức phạt này là quá thấp so với quy mô và giá trị thực tế của các phần vốn góp chuyển nhượng trong doanh nghiệp, hoàn toàn không đủ sức răn đe để ngăn chặn các hành vi cố tình chây ì, trì hoãn sang tên thành viên của người quản lý doanh nghiệp.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Mai Hoàng Như là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, làm sáng tỏ bản chất lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên trong bối cảnh thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2020. Nghiên cứu đã chỉ ra chính xác các nút thắt pháp lý xoay quanh thời điểm xác lập tư cách thành viên khi chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và trả nợ bằng phần vốn góp thông qua các bản án xét xử thực tế. Các kiến nghị điều chỉnh thời điểm xác lập tư cách thành viên và bổ sung thời hạn ra quyết định của Hội đồng thành viên mang tính khả thi cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện khung pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam.