CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP TƯ CÁCH THÀNH VIÊN CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 1. Khái quát về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Để có khái niệm khoa học về tranh chấp tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, trước hết cần làm rõ thế nào là công ty TNHH hai thành viên trở lên. Theo quy định tại Điều 46 LDN 2020: “1. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân.
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này. Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 51, 52 và 53 của Luật này. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được phát hành cổ phần, trừ trường hợp để chuyển đổi thành công ty cổ phần.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được phát hành trái phiếu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; việc phát hành trái phiếu riêng lẻ phải tuân thủ quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Luật này.” Tương tự như LDN 2014, LDN 2020 cũng không trực tiếp đưa ra khái niệm về công ty TNHH hai thành viên trở lên mà chỉ liệt kê ra những dấu hiệu nhận biết loại hình công ty thông qua các đặc điểm. Dựa trên những đặc điểm này có thể rút ra khái niệm về công ty TNHH hai thành viên trở lên như sau: Công ty TNHH hai thành viên là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, không có quyền phát hành cổ phần, do từ 02 đến 50 thành viên góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty1. Từ khái niệm trên, có thể thấy công ty TNHH hai thành viên trở lên có những đặc điểm cơ bản sau: 1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh, Tái bản lần 1 có sửa đổi và bổ sung, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.
5 Thứ nhất, công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 46 LDN 2020. Theo quy định tại Điều 74 BLDS 2015, một tổ chức có tư cách pháp nhân khi: (i) Được thành lập hợp pháp; (ii) Có cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ; (iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (iv) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Tư cách pháp nhân của công ty TNHH hai thành viên trở lên cho phép phân biệt loại hình này với doanh nghiệp tư nhân – là loại hình doanh nghiệp không có sự tách biệt giữa công ty và chủ sở hữu công ty.
Theo đó, ở công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ thể bỏ vốn ra thành lập và công ty có sự tách biệt tuyệt đối, công ty là một thực thể pháp lý độc lập mà không phụ thuộc hay bị chi phối bởi đặc điểm nhân thân, tài sản của chủ sở hữu thành lập ra nó. Tính chất này cho phép công ty tồn tại độc lập, liên tục mà không phụ thuộc vào việc người thành lập ra nó bị chết, bị mất tích, bị hạn chế, mất năng lực hành vi dân sự hay bị tuyên bố phá sản2. Đây là một lợi thế của công ty đối vốn. Những thay đổi về thành viên, vốn của công ty không ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty.
Thứ hai, công ty TNHH hai thành viên trở lên có chế độ trách nhiệm hữu hạn. Đúng như tên gọi của nó, thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty. Tức là khi các nhà đầu tư góp một số vốn để thành lập một công ty TNHH hai thành viên trở lên thì có những rủi ro, có lợi nhuận hoặc phải chịu lỗ. Nhưng vấn đề đặt ra là giới hạn chịu lỗ đến đâu.
Ở các công ty đối nhân khi mà chế độ tách bạch tài sản của công ty và thành viên công ty không rõ ràng nên đặt ra chế độ trách nhiệm vô hạn đối với các thành viên để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư khác và chủ thể khác. Trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thì khi các thành viên thỏa thuận góp vốn vào công ty để kinh doanh thì số vốn họ góp là giới hạn trách nhiệm. Khi công ty hoạt động kinh doanh bị lỗ thì tổng số tài sản lớn nhất mà họ có thể thua lỗ chính là phần vốn mà họ đã góp vào công ty. TNHH là cơ chế bảo vệ rất tốt cho nhà đầu tư, giúp họ có thể tự tin sản xuất, kinh doanh, kể cả trong những lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nhưng đồng thời cũng 2 Lê Nhật Bảo (2019), Luật Doanh nghiệp Việt Nam: Tình huống – Dẫn giải – Bình luận, Xuất bản lần thứ tư, có sửa đổi, bổ sung, NXB.
Chính trị Quốc gia Sự Thật, tr. 6 đòi hỏi những khách hàng, chủ nợ của công ty TNHH hai thành viên trở lên phải thận trọng, điều tra kỹ càng về công ty trước khi quyết định giao dịch3. Thứ ba, công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp có số lượng thành viên hạn chế. Khác với công ty cổ phần và công ty hợp danh không bị hạn chế về số lượng thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên có số lượng thành viên tối thiểu là 02 và tối đa là không quá 50, thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân, đặc điểm này cho phép nhận diện công ty TNHH hai thành viên trở lên với những loại hình công ty còn lại.
Với số lượng thành viên như vậy, công ty TNHH hai thành viên trở lên có được lợi thế nhất định so với doanh nghiệp tư nhân hay công ty TNHH một thành viên ở chỗ phân tán và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đồng thời đáp ứng được nhu cầu kinh doanh ở quy mô lớn4. Ngoài ra, công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp kết hợp giữa tính chất đối vốn và tính chất đối nhân, ở loại hình này vốn góp không phải là sự liên kết duy nhất giữa các thành viên mà họ còn liên kết với nhau bởi mối quan hệ quen biết, chính điều này dẫn đến trong nhiều trường hợp những chủ thể không phải là thành viên công ty nhưng có sở hữu phần vốn góp của công ty cũng không đương nhiên trở thành thành viên công ty mà cần phải có được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên. Khái niệm và đặc điểm tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Theo quy định tại khoản 29 Điều 4 LDN 2020, thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên là “thành viên sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn”. Như vậy, có thể định nghĩa tư cách thành viên như sau: Tư cách tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể được hiểu là việc một cá nhân hay tổ chức được công nhận là thành viên của công ty với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của LDN và điều lệ công ty tương ứng với phần vốn góp trong công ty.
3 Lê Nhật Bảo (2019), Luật Doanh nghiệp Việt Nam: Tình huống – Dẫn giải – Bình luận, Xuất bản lần thứ tư, có sửa đổi, bổ sung, NXB. Chính trị Quốc gia Sự Thật, tr. 4 Tống Thị Thu Thảo (2016), Tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên theo LDN 2014, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 7 Từ định nghĩa trên, tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên có một số đặc điểm nổi bật sau: Thứ nhất, có nhiều cách thức để xác lập tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên như: Một là, cùng cam kết góp vốn và đứng ra thành lập công ty với tư cách là những thành viên sáng lập hoặc góp vốn vào công ty trong quá trình công ty hoạt động.
Việc thực hiện góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên trở lên là cách thức cơ bản nhất để trở thành thành viên công ty. Hai là, nhận chuyển nhượng phần vốn góp từ thành viên công ty. Cơ chế về chuyển nhượng phần vốn góp được coi là cơ chế phổ biến thứ hai để làm cơ sở hình thành tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên. Ba là, nhận thừa kế phần vốn góp.
Việc hưởng thừa kế được coi là một căn cứ để hình thành tư cách thành viên cho người thừa kế khi người chết là thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên để đảm bảo quyền và lợi ích cho họ. Bốn là, nhận tặng cho phần vốn góp. Sự kiện tặng cho phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên cho người khác không phải là thành viên công ty cũng là một căn cứ để xác lập tư cách thành viên cho người nhận tặng cho nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Năm là, nhận trả nợ bằng phần vốn góp.
Trường hợp thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì đây sẽ là căn cứ để hình thành tư cách thành viên cho người nhận trả nợ bằng phần vốn góp nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Thứ hai, căn cứ chứng minh tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên là cơ sở để xác định và thừa nhận tư cách thành viên. Trên phương diện pháp lý, đó là những tài liệu, chứng cứ thể hiện quyền sở hữu phần vốn góp trong công ty của thành viên.