CHƯƠNG 1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 1.1 Phần vốn góp của thành viên trong vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Khác với đa số các loại hình công ty khác, công ty TNHH hai thành viên trở lên hoàn toàn là sản phẩm của quá trình lập pháp. Nhiều người cho rằng: “Mô hình công ty cổ phần không thích hợp với các nhà đầu tư vừa và nhỏ. Các quy định quá phức tạp trong luật công ty cổ phần không cần thiết cho loại công ty vừa và nhỏ, có ít thành viên và thường là họ quen biết nhau. Còn chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không thích hợp với tất cả các nhà đầu tư”.7 Có lẽ là từ những quan niệm trên, “loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên được xây dựng với sự kế thừa từ các ưu điểm kết hợp của công ty cổ phần và công ty hợp danh”8.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 46 LDN 2020 thì công ty TNHH hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Do là loại hình công ty có tư cách pháp nhân nên công ty TNHH hai thành viên trở lên mang đặc tính pháp lý “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình”9. Lúc mới thành lập, tài sản của doanh nghiệp về cơ bản chỉ bao gồm nguồn vốn từ các nhà đầu tư. Do đó, “tại thời điểm thành lập, tài sản trong doanh nghiệp chính là vốn điều lệ của doanh nghiệp”10 và doanh nghiệp phải chịu các trách nhiệm tài chính bằng phần vốn này tại thời điểm thành lập công ty.
Trên phương diện pháp lý, vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên11. Ngoại trừ một số ngành nghề kinh doanh đặc thù có yêu cầu về vốn pháp định - số vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp, LDN 2020 không quy định mức tối thiểu về vốn điều lệ. Như vậy, tuỳ vào nhu cầu, mong muốn của các thành viên, 7 Bùi Ngọc Cường, Giáo trình Luật Thương mại, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, Tập I, tr. 58 8 Nguyễn Vinh Hưng, tlđd (2), tr.
40 9 Điểm c khoản 1 Điều 74 Bộ luật dân sự 2015 10 Phạm Hoài Huấn (chủ biên) (2015), Luật Doanh nghiệp Việt Nam - Tình huống - Dẫn giải - Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr. 24 11 khoản 34 Điều 4 LDN 2020 6 vốn điều lệ công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể là một con số “cực khủng” hoặc thậm chí có thể là số tiền “bé tí”. Để hình thành vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thì thành viên công ty phải thực hiện việc góp vốn. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam thì có thể góp vốn để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên.12 Khi xác định thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên để kinh doanh và đã thực hiện việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, thành viên công ty phải thực hiện các nghĩa vụ về vốn để đảm bảo hoạt động công ty.
Thời hạn để các thành viên thực hiện nghĩa vụ góp vốn là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thời hạn này không bao gồm thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản.13 Trong trường hợp một hoặc một số thành viên đã cam kết góp vốn và loại tài sản dùng để góp vốn nhưng không thực hiện hoặc góp không đủ thì thành viên đó phải chịu các nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên. Đồng thời khi thực hiện góp tài sản để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, các thành viên công ty phải thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty. Người góp vốn sẽ trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp và những thông tin về người góp vốn ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên, trừ trường hợp cam kết góp vốn khi thành lập công ty. Lúc này thành viên sẽ không còn quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn mà thứ họ nhận lại được chính là phần vốn góp tương ứng với tổng giá trị tài sản của họ đã góp hoặc cam kết góp vào công ty.
Kết thúc của quá trình góp vốn là mỗi thành viên góp vốn sẽ được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho thành viên tương ứng với giá trị phần vốn đã góp. Phần vốn góp của các thành viên cũng chính là tài sản mà thành viên có thể định đoạt trong công ty TNHH hai thành viên trở lên. Không giống với đa số loại tài sản khác, phần vốn góp không chỉ là một loại tài sản có thể trị giá được bằng tiền mà nó còn thể hiện tư cách thành viên, các quyền và nghĩa vụ của thành viên tương ứng với số vốn góp.Cá nhân, tổ chức khi thực 12 Điều 34 LDN 2020 13 khoản 2 Điều 47 LDN 2020 14 Bùi Thị Thanh Thảo (2014), “Góp ý hoàn thiện các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2 (81)/2014, tr. 20 7 hiện việc góp vốn để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên sẽ trở thành thành viên công ty và dĩ nhiên họ sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty.
Khi sở hữu phần vốn góp, thành viên công ty sẽ được hưởng các quyền về tài sản cũng như các quyền về quản trị tương ứng với phần vốn góp của mình. Các quyền về tài sản có thể kể đến như: quyền được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật, được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản, được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ. Bên cạnh các quyền về tài sản, chủ sở hữu phần vốn góp còn được hưởng các quyền về quản trị như: tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên.15 Phần vốn góp đóng vai trò quan trọng trong công ty TNHH hai thành viên trở lên bởi lẽ các quyết định của Hội đồng thành viên chủ yếu dựa vào tỷ lệ biểu quyết của thành viên, trong đó số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp. Có thể hiểu đơn giản là thành viên sở hữu phần vốn góp càng nhiều thì càng có quyền chi phối đến các quyết định của công ty.
Về nghĩa vụ, thành viên công ty có nghĩa vụ tuân thủ các nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên như: Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 47 của LDN 2020, không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các điều 51, 52, 53 và 68 của LDN 2020, tuân thủ Điều lệ công ty, chấp hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên,…16 Đối với các nghĩa vụ về tài chính, thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp - đây là một đặc điểm quan trọng của loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên. Khi cá nhân, tổ chức hoàn tất việc góp vốn của mình thì họ không còn quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn, thứ họ nhận lại là phần vốn góp tương ứng với giá trị tài sản góp vốn. Tổng giá trị phần vốn góp của thành viên sẽ trở thành tài sản công ty, công ty sẽ dùng khối tài sản này để hoạt động, kinh doanh và tự dùng khối tài sản đó để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của công ty. Trường hợp tài sản của công ty không đủ để thực hiện các nghĩa vụ tài chính thì thành viên công ty không có nghĩa vụ dùng tài sản cá nhân của mình để thực hiện thay nghĩa vụ của công ty.
Như vậy, khi thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, các thành viên sẽ thực hiện góp hay cam kết góp vốn để tạo thành tài sản công ty, tổng giá trị tài sản 15 khoản 1 Điều 49 LDN 2020 16 Điều 50 LDN 2020 8 góp vốn sẽ hợp thành vốn điều lệ của công ty. Thành viên góp vốn sẽ trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, qua đó được hưởng các quyền về tài sản và quản trị của thành viên công ty.2 Cơ sở pháp lý về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên “Xét về mặt pháp lý, một nội dung quan trọng thể hiện đặc tính pháp lý của quyền sở hữu, biểu trưng cho đặc quyền của chủ sở hữu, đó là quyền định đoạt đối với tài sản”.17 Theo Điều 192 BLDS 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.” “Hiểu nôm na, quyền định đoạt là quyền quyết định “số phận” thực tế và “số phận” pháp lý của tài sản”.18 Tuy nhiên, phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được xác định là “một loại tài sản vô hình, hay nói cách khác chính là quyền tài sản của chủ sở hữu”19 nên không thể thực hiện định đoạt về mặt thực tế được20.