Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, chế độ sở hữu tư nhân và nguyên tắc tự do hợp đồng là những nền tảng pháp lý cơ bản được Nhà nước công nhận. Trên cơ sở đó, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam luôn ghi nhận quyền sở hữu và đặc biệt là quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên – một quyền năng then chốt của nhà đầu tư. Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh năm 2020, phần lớn các doanh nghiệp tại Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa. Đối với quy mô này, mô hình công ty cổ phần có cơ cấu quản trị phức tạp, trong khi doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh lại áp dụng chế độ trách nhiệm vô hạn. Do đó, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên – loại hình kết hợp ưu điểm của công ty đối nhân và công ty đối vốn, nơi các thành viên có sự quen biết, tin cậy và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp – trở thành mô hình doanh nghiệp phổ biến hàng đầu.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ (từ phiên bản năm 1999, 2005, 2014 đến 2020) cho thấy đã phát sinh nhiều vướng mắc và tranh chấp liên quan đến việc định đoạt phần vốn góp. Các quy định pháp luật còn thiếu rõ ràng về thủ tục chuyển nhượng, việc định đoạt phần vốn cam kết góp, cũng như phạm vi quyền định đoạt của các chủ thể chưa phải hoặc không trở thành thành viên công ty.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Minh Thông (chuyên ngành Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Phương Hà) xác định 03 mục đích nghiên cứu:

  1. Phân tích và làm rõ các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên từ góc độ lý luận đến thực tiễn áp dụng.
  2. Chỉ ra những điểm tiến bộ và hạn chế của Luật Doanh nghiệp năm 2020 trên cơ sở so sánh với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và thực tiễn xét xử.
  3. Đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật doanh nghiệp về định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, bao gồm: chuyển nhượng, yêu cầu công ty mua lại, để thừa kế, tặng cho và dùng phần vốn góp để trả nợ của các chủ thể là tổ chức, cá nhân Việt Nam (không nghiên cứu phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài).
  • Phạm vi nghiên cứu: Trọng tâm là Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Luật số 59/2020/QH14), có đối chiếu với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số 91/2015/QH13), Nghị định số 01/2021/NĐ-CP và các bản án thực tế của Tòa án.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên các khái niệm và nền tảng lý luận luật học sau:

  • Bản chất pháp lý của phần vốn góp: Căn cứ khoản 34 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, phần vốn góp là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty. Phần vốn góp là quyền tài sản vô hình, vừa đại diện cho giá trị tài sản, vừa xác lập tư cách thành viên, bao gồm nhóm quyền tài sản (hưởng lợi nhuận, chia tài sản khi giải thể/phá sản) và nhóm quyền quản trị (biểu quyết, tham dự họp Hội đồng thành viên) theo Điều 49, Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
  • Quyền định đoạt phần vốn góp: Căn cứ Điều 192, Điều 194, Điều 196 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm e khoản 1 Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2020, định đoạt phần vốn góp là việc định đoạt "số phận pháp lý" của tài sản thông qua các giao dịch dân sự, thương mại. Do tính chất "công ty đóng" và yếu tố đối nhân, quyền định đoạt này bị giới hạn bởi các điều kiện luật định nhằm bảo vệ sự ổn định của công ty và quyền lợi của các thành viên còn lại.
  • Phần vốn cam kết góp là tài sản hình thành trong tương lai: Dựa trên điểm a khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020, trong thời hạn 90 ngày góp vốn, phần vốn cam kết góp được xác định là tài sản hình thành trong tương lai, cho phép thành viên thực hiện quyền định đoạt tương ứng với tỷ lệ đã cam kết.

Tác giả sử dụng ba phương pháp nghiên cứu pháp lý chủ đạo:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm pháp luật, bình luận cơ sở lý luận, giải mã cấu trúc điều luật và đánh giá các bản án, vụ việc thực tế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
  • Phương pháp tổng hợp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 nhằm hệ thống hóa các bất cập, lỗ hổng pháp lý từ thực tiễn để xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện lập pháp.
  • Phương pháp so sánh luật: So sánh quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 1999 nhằm nhận diện sự chuyển biến và tính tiến bộ của kỹ thuật lập pháp qua từng thời kỳ.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, giáo trình chuẩn của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, các sách chuyên khảo (Phạm Hoài Huấn, Trương Nhật Quang, Bùi Ngọc Cường), các bài viết trên Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, cùng các bản án thực tế của Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Chương này tập trung làm rõ khung pháp lý hiện hành của Luật Doanh nghiệp năm 2020 điều chỉnh các quan hệ định đoạt phần vốn góp:

  • Chủ thể và đối tượng định đoạt:
    • Chủ thể: Phân chia thành hai nhóm gồm thành viên công ty (có đầy đủ quyền định đoạt mở rộng như chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế, dùng trả nợ, thế chấp...) và các chủ thể sở hữu phần vốn góp hợp pháp nhưng chưa hoặc không trở thành thành viên (người thừa kế không muốn vào công ty, người nhận tặng cho hoặc nhận trả nợ không được Hội đồng thành viên chấp thuận). Nhóm thứ hai có phạm vi định đoạt hẹp hơn, chủ yếu chỉ được chuyển nhượng hoặc yêu cầu công ty mua lại.
    • Đối tượng: Gồm phần vốn đã góp và phần vốn cam kết góp (được công nhận là tài sản hình thành trong tương lai trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp).
  • Quy định về chuyển nhượng phần vốn góp (Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020): Nguyên tắc cốt lõi là ưu tiên chào bán cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ vốn góp với cùng điều kiện. Chỉ khi các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán thì mới được chuyển nhượng cho người ngoài với cùng điều kiện đã chào bán. Ngoại lệ tự do chuyển nhượng được áp dụng khi công ty không thanh toán được phần vốn góp yêu cầu mua lại theo khoản 4 Điều 51.
  • Quy định về yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (Điều 51 Luật Doanh nghiệp năm 2020): Đây là ngoại lệ của nguyên tắc cấm rút vốn, nhằm bảo vệ thành viên (nhất là nhóm thiểu số) khi bỏ phiếu không tán thành nghị quyết sửa đổi Điều lệ về quyền/nghĩa vụ, tổ chức lại công ty hoặc trường hợp Điều lệ quy định. Công ty chỉ thanh toán mua lại nếu sau khi thanh toán vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
  • Quy định về để lại thừa kế, tặng cho và trả nợ bằng phần vốn góp (Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020): Phân định cơ chế tiếp nhận tư cách thành viên đối với cá nhân nhận thừa kế theo di chúc/pháp luật, người nhận tặng cho thuộc hàng thừa kế theo pháp luật (đương nhiên làm thành viên) so với người nhận tặng cho ngoài hàng thừa kế hoặc người nhận thanh toán nợ (phải được Hội đồng thành viên chấp thuận mới trở thành thành viên).

Chương 2: Các bất cập và kiến nghị hoàn thiện cho các quy định pháp luật về định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Chương này phân tích các vướng mắc trong quy định và thực tiễn xét xử, từ đó đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Về quyền chuyển nhượng phần vốn góp:
    • Bất cập: Luật chưa rõ ràng về việc thành viên có được thỏa thuận điều kiện khắt khe hơn khi bán cho người ngoài; bắt buộc chờ hết 30 ngày dù các thành viên khác đã có văn bản từ chối mua sớm; loại trừ quyền tự thỏa thuận tỷ lệ chào bán nội bộ giữa các thành viên.
    • Thực tiễn xét xử: Phân tích Bản án số 22/2018/KDTM-PT của TAND TP. Hải Phòng (công nhận quyền chuyển nhượng cho bên thứ ba sau khi thành viên khác gửi văn bản từ chối mua trước thời hạn 30 ngày), Bản án số 1002/2019/KDTM-ST của TAND TP. Hồ Chí Minh và Bản án số 22/2018/KDTM-PT của TAND cấp cao tại Đà Nẵng (Tòa án công nhận thỏa thuận phân chia tỷ lệ chuyển nhượng nội bộ dù không đúng tỷ lệ sở hữu ban đầu).
    • Kiến nghị: Bổ sung quy định cho phép thành viên chuyển nhượng ngay khi nhận được văn bản từ chối mua của các thành viên còn lại; cho phép các bên tự thỏa thuận tỷ lệ chào bán nội bộ nếu toàn bộ thành viên đồng thuận hoặc Điều lệ có quy định khác.
  • Về quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp:
    • Bất cập: Khoản 3 Điều 51 quy định điều kiện công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán nợ mới có nghĩa vụ mua lại vô hình trung triệt tiêu quyền rút vốn hợp pháp của thành viên; thiếu quy định buộc công ty phải chứng minh, giải trình về khả năng tài chính.
    • Thực tiễn xét xử: Bản án số 08/2021/KDTM-PT của TAND cấp cao tại Đà Nẵng (vụ án Công ty TNHH sản xuất gạch ngói TT) đã sai lầm khi công nhận biên bản thỏa thuận rút vốn/hoàn trả vốn là công ty mua lại phần vốn góp theo Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2014, vi phạm căn cứ luật định tại khoản 1 Điều 51.
    • Kiến nghị: Tách bạch nghĩa vụ mua lại với thời điểm thanh toán. Công ty vẫn phải có nghĩa vụ mua lại phần vốn góp và ghi nhận nợ, việc thanh toán có thể lùi lại khi tài chính cho phép, chỉ chấm dứt nghĩa vụ khi công ty lâm vào thủ tục phá sản. Bổ sung trách nhiệm giải trình, kiểm toán khả năng tài chính của công ty đối với thành viên yêu cầu mua lại.
  • Về quyền tặng cho, thừa kế, trả nợ bằng phần vốn góp:
    • Bất cập: Quy định người thừa kế theo di chúc và người nhận tặng cho thuộc hàng thừa kế đương nhiên trở thành thành viên đã xâm phạm tính đối nhân và tính "đóng" của công ty TNHH; chưa có quy định cho phép người nhận tặng cho từ chối gia nhập công ty; hạn chế quyền của người nhận trả nợ (chỉ được chuyển nhượng, không được yêu cầu mua lại).
    • Kiến nghị: Bổ sung quy định Hội đồng thành viên có quyền bác bỏ tư cách thành viên của người nhận thừa kế/tặng cho nếu các thành viên phản đối đại diện từ 75% tổng số vốn góp; bổ sung quyền từ chối gia nhập công ty của người nhận tặng cho; mở rộng quyền yêu cầu công ty mua lại cho người nhận trả nợ bằng phần vốn góp khi không được Hội đồng thành viên chấp thuận.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện các điểm bất cập trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 và đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện lập pháp qua bảng so sánh đối chiếu:

Lĩnh vực quy định Bất cập pháp lý trong Luật Doanh nghiệp 2020 Đề xuất hoàn thiện lập pháp của tác giả
Chuyển nhượng phần vốn góp (Điều 52) Bắt buộc chờ đủ 30 ngày chào bán nội bộ dù các thành viên đã từ chối; không cho phép thỏa thuận tỷ lệ chào bán nội bộ khác tỷ lệ vốn góp. Cho phép chuyển nhượng cho bên thứ ba ngay khi nhận đủ thông báo từ chối; cho phép các thành viên tự thỏa thuận tỷ lệ chuyển nhượng nội bộ.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp (Điều 51) Xóa bỏ nghĩa vụ mua lại nếu công ty không bảo đảm thanh toán nợ khác; thiếu nghĩa vụ giải trình tài chính của công ty. Quy định nghĩa vụ mua lại là bắt buộc; việc thanh toán có thể hoãn đến khi tài chính phục hồi; bổ sung trách nhiệm chứng minh, cung cấp báo cáo tài chính của công ty.
Thừa kế và Tặng cho (Điều 53) Người nhận thừa kế/tặng cho đương nhiên làm thành viên làm tổn hại tính đối nhân; người nhận tặng cho không có điều khoản từ chối làm thành viên. Cho phép Hội đồng thành viên từ chối tiếp nhận nếu thành viên sở hữu từ 75% vốn phản đối; bổ sung quyền từ chối tư cách thành viên cho người nhận tặng cho.
Trả nợ bằng phần vốn góp (Điều 53) Người nhận trả nợ khi không được duyệt làm thành viên chỉ có quyền chuyển nhượng, không có quyền yêu cầu mua lại. Bổ sung quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp cho chủ nợ nhận thanh toán nếu không được Hội đồng thành viên chấp thuận.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền tài sản vô hình và bản chất của phần vốn cam kết góp; phân định rành mạch phạm vi quyền giữa thành viên công ty và chủ thể sở hữu vốn ngoài công ty; đồng thời chỉ ra sự thiếu nhất quán trong thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án thông qua các bản án kinh doanh thương mại điển hình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được giới hạn trong việc định đoạt phần vốn góp của các cá nhân, tổ chức Việt Nam, chưa mở rộng phân tích các điều kiện đặc thù đối với nhà đầu tư nước ngoài (như thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần/phần vốn góp theo pháp luật đầu tư, quản lý ngoại hối). Nguồn dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên các bản án được công bố giai đoạn áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2005, 2014 và thời điểm đầu khi Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH có vốn đầu tư nước ngoài; nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng phần vốn góp (cầm cố, thế chấp); đánh giá tác động toàn diện của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2020 trong các tranh chấp phát sinh từ năm 2021 trở đi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về kỹ năng phân tích điều luật, phương pháp tiếp cận các chế định pháp lý doanh nghiệp và phương pháp bình luận bản án thực tế.
  • Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp: Tham khảo các rủi ro pháp lý thường gặp khi soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, quy trình xử lý vốn góp khi thành viên chết, tặng cho hoặc yêu cầu công ty mua lại.
  • Thẩm phán, Trọng tài viên: Tham khảo các góc nhìn phản biện đối với việc định danh quan hệ tranh chấp rút vốn, áp dụng đúng điều kiện công ty mua lại phần vốn góp nhằm tránh các sai sót trong xét xử như một số bản án đã phân tích.
  • Nhà đầu tư và thành viên công ty TNHH: Nhận thức rõ quyền năng định đoạt, điều kiện chuyển nhượng ưu tiên và các biện pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi phát sinh bất đồng trong Hội đồng thành viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Phần vốn cam kết góp nhưng chưa thực góp trong thời hạn 90 ngày có được định đoạt không? Có. Theo phân tích của tác giả dựa trên điểm a khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020, phần vốn cam kết góp là một loại quyền tài sản hình thành trong tương lai. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết, do đó có quyền định đoạt phần vốn này.

2. Nếu các thành viên còn lại có văn bản từ chối mua phần vốn góp trước thời hạn 30 ngày thì bên chuyển nhượng có phải chờ hết 30 ngày mới được bán cho người ngoài không? Theo tinh thần xét xử thực tế tại Bản án số 22/2018/KDTM-PT của TAND TP. Hải Phòng, việc thành viên gửi văn bản từ chối mua được coi là sự trả lời không chấp nhận giao kết hợp đồng. Khi tất cả các thành viên còn lại đã thể hiện ý chí không mua hoặc mua không hết, bên chuyển nhượng có quyền bán cho đối tác bên ngoài ngay mà không cần chờ hết thời hạn 30 ngày. Tác giả kiến nghị luật cần chính thức hóa quy định này.

3. Khi công ty gặp khó khăn tài chính, nghĩa vụ mua lại phần vốn góp theo yêu cầu của thành viên có bị triệt tiêu không? Theo quan điểm của tác giả (tiếp thu từ ThS. Nguyễn Thị Phương Hà), việc không thỏa mãn điều kiện thanh toán nợ chỉ là căn cứ để công ty tạm hoãn chi trả tiền ngay, chứ không làm triệt tiêu nghĩa vụ mua lại. Công ty vẫn phải ghi nhận nghĩa vụ và tiến hành thanh toán khi khả năng tài chính phục hồi, trừ trường hợp công ty lâm vào tình trạng phá sản.

4. Người thừa kế theo di chúc có đương nhiên trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên không? Theo khoản 1 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020, người thừa kế theo di chúc nếu muốn gia nhập và đáp ứng điều kiện quản lý doanh nghiệp (khoản 2 Điều 17) thì đương nhiên trở thành thành viên mà không cần Hội đồng thành viên chấp thuận. Khóa luận đánh giá quy định này làm suy giảm tính đối nhân của công ty và kiến nghị cho phép Hội đồng thành viên bác bỏ nếu có từ 75% vốn biểu quyết không tán thành.

5. Người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp có được yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp khi không được Hội đồng thành viên chấp thuận làm thành viên không? Theo điểm b khoản 7 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020, chủ nợ chỉ có quyền chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo Điều 52, không được quy định quyền yêu cầu công ty mua lại. Tác giả chỉ ra đây là điểm bất bình đẳng so với người thừa kế và người nhận tặng cho, từ đó kiến nghị bổ sung quyền yêu cầu công ty mua lại cho đối tượng này.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trương Minh Thông đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp năm 2020. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy định về chuyển nhượng, mua lại, thừa kế, tặng cho và dùng vốn trả nợ, kết hợp đối chiếu với các bản án kinh doanh thương mại thực tế, công trình đã làm nổi bật các lỗ hổng lập pháp còn tồn tại. Các kiến nghị sửa đổi Điều 51, Điều 52 và Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được đề xuất với lập luận chặt chẽ, góp phần cân bằng giữa tính đối nhân, tính đối vốn của doanh nghiệp và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.