CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về góp vốn thành lập công ty cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần Ở các nước khác nhau, công ty cổ phần có thể có những tên gọi khác nhau. Ở Mỹ được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), ở Pháp là công ty vô danh (Anonymous Company), ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company Limited), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)… Công ty cổ phần đầu tiên xuất hiện ở Anh năm 1600 là Công ty Đông Ấn (East India Company), được thành lập bởi một nhóm gồm 218 người, với hình thức rất đơn giản, các thành viên góp vốn theo từng chuyến đi biển, sau mỗi chuyến đi các thành viên tham gia nhận lại vốn của mình và tiền lãi; nếu gặp rủi ro thì các thành viên chịu thiệt hại tương ứng với phần vốn mà mình đã góp.
Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các công ty tương tự như Công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt công ty cổ phần xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức… Đến cuối thế kỷ XVII, công ty cổ phần bắt đầu xuất hiện ở lĩnh vực ngân hàng. Từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, công ty cổ phần xâm nhập vào lĩnh vực giao thông vận tải, đường sông, đường sắt… Đến năm 1962, ở Anh đã có tới 482.000 công ty cổ phần. Còn ở Mỹ, năm 1904 số công ty cổ phần chiếm 23.6% tổng doanh nghiệp cả nước, năm 1962 đã chiếm 78%. Bắt đầu từ thời kỳ này công ty cổ phần được thành lập khắp trên nhiều lĩnh vực ở các nước tư bản và làm cho nền kinh tế ở mỗi quốc gia phát triển [33; tr.
Nếu như công ty cổ phần ra đời và phát triển ở các nước tư bản khá sớm thì ở Việt Nam lại xuất hiện rất muộn. Từ năm 1986 trở về trước, Việt Nam phát triển kinh tế theo hướng kinh tế quản lý tập trung nên không tồn tại công ty cũng như luật công ty. Tại Đại hội Đảng khóa VI năm 1986, khi Đảng và Nhà nước quyết định chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu thì công ty mới được công nhận là hình thức pháp lý để tiến hành hoạt 6 động kinh doanh. Đến năm 1990, Việt Nam mới có đạo luật chính thức quy định về công ty, đó là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990.
Những quy định của pháp luật về công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện để đáp ứng điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới, từ Luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 và mới đây nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2014. Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về Công ty cổ phần: “1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.” Dù được quy định với tên gọi khác nhau nhưng bản chất công ty cổ phần được hiểu khá thống nhất. Theo đó, công ty cổ phần là đặc trưng cho loại hình công ty đối vốn, tức là sự liên kết giữa các cổ đông dựa trên nhu cầu về vốn, không bị ràng buộc về mặt nhân thân như đối với loại hình công ty đối nhân. Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu. Công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản, phân biệt với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh.
Khái niệm, đặc điểm vốn trong công ty cổ phần Dưới góc độ là một phạm trù kinh tế, vốn là một điều kiện tiên quyết của bất cứ doanh nghiệp ngành kinh tế, dịch vụ và kỹ thuật nào trong nền kinh tế thuộc hình thức sở hữu khác nhau. Trong các doanh nghiệp kinh doanh nói chung, vốn sản xuất là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý có kế hoạch vào việc sản xuất những sản phẩm của doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm về vốn kinh doanh, tuy nhiên khái niệm được nhiều người ủng hộ là: Vốn kinh doanh là số vốn được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, số vốn này được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp (do chủ sở hữu đóng góp ban đầu) và bổ sung thêm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ pháp lý, vốn của doanh nghiệp được tiếp cận dưới góc độ “vốn điều lệ”.
Trước đây, Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ quy định về vốn điều lệ của công ty nói chung: “Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty” (khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005). Đồng thời, khoản 1 Điều 84 Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại quy định “Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Với cách quy định như Luật Doanh nghiệp năm 2005, vô hình chung cho phép công ty cổ phần tồn tại một lượng vốn “ảo” trong thời gian nhất định. Hạn chế này đã được khắc phục bởi Nghị định 102/2010/NĐ-CP và mới đây nhất là tại Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Theo đó, khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định về vốn công ty cổ phần: “Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty”. 8 Với cách quy định trên, vốn điều lệ công ty cổ phần được kéo về là vốn “thực” – theo đó, vốn điều lệ là giá trị mệnh giá cổ phần đã có người mua và đã thanh toán cho công ty. Để tạo thuận lợi cho chủ thể góp vốn vào công ty cũng như giúp công ty trong việc tạo lập vốn tại thời điểm mới thành lập, luật đã rất hợp lý khi cho phép, tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ là tổng mệnh giá cổ phần đã được đăng ký mua – tức là các cổ đông mới chỉ đăng ký mua, chưa nhất thiết phải thanh toán cho công ty.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2014, cổ phần được chia thành hai loại chính là cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông. Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi.
Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ phần ưu đãi cổ tức; cổ phần ưu đãi hoàn lại; cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định (Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Cổ phần phổ thông không thể được chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Ngược lại, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông khi hết thời hạn 3 năm kể từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; các loại cổ phần ưu đãi khác cũng có thể được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
Việc ấn định các quyền lợi cho cổ phần ưu đãi ban đầu là do các công ty tự đề ra cho các cổ đông nhằm bảo đảm sự bình đẳng về lợi ích giữa họ với nhau, sau này mới được pháp điển hoá thành luật. Các quyền lợi của những người nắm giữ cổ phần ưu đãi được đặt ra ngay từ đầu khi mới lập công ty bằng Điều lệ công ty hoặc sau này bằng các văn bản và được coi như là hợp đồng của người nắm giữ cổ phần ưu đãi ký kết với công ty. Nếu được ưu đãi về mặt cổ tức thì người sở hữu sẽ được nhận cổ tức hàng năm trước người sở hữu cổ phần phổ thông; còn ưu đãi khi giải thể thì họ sẽ được lấy tài sản của công ty theo phần của mình trước những người sở 9 hữu cổ phần phổ thông, nhưng chỉ lấy sau các chủ nợ. Có loại cổ phần chỉ ưu đãi về mặt cổ tức mà không ưu đãi lúc giải thể và ngược lại.
Trong loại ưu đãi cũng có thể có quyền lợi khác nhau. Sự khác nhau này tuỳ theo khả năng và mức độ chấp nhận của thị trường. Như vậy, cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty. Người nắm giữ cổ phần gọi là cổ đông, họ được coi là người sở hữu công ty.
Mỗi cổ đông có thể mua một hay nhiều cổ phần; nhưng đôi khi số lượng cổ phần tối đa mà một cổ đông nắm giữ có thể bị hạn chế bởi Điều lệ công ty (nhằm tránh việc một cổ đông nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty). Cổ đông có thể là các nhân hoặc các tổ chức. Cổ phần cho cổ đông quyền hạn tuỳ theo loại.