Chương 1 thì công ty là “một khế ước trong đó có hai hay nhiều người đồng ý góp chung nhau một số tài sản để lấy lợi mà chia cho nhau”. Các luật gia của Đức thì cho rằng, công ty là “sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hay pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được mục ti u chung nào đó”4. Vậy, quan niệm truyền thống luôn coi công ty là một thực thể hư cấu, hình thành tr n cơ sở góp vốn của nhiều chủ thể để cùng nhau tiến hành kinh doanh kiếm lời5. Theo thời gian, định ngh a này đã được mở rộng.
Sự xuất hiện của mô hình công ty do một cá nhân hoặc tổ chức làm chủ sở h u đã được xã hội và pháp luật một số quốc gia, khu vực thừa nhận6. Hơn n a, việc cùng góp vốn kinh doanh vì mục đích chung chỉ đúng với công ty quy mô nhỏ, khi các thành viên quen biết nhau như mô hình công ty trách nhiệm h u hạn. Trong một công ty cổ phần quy mô lớn, lợi ích của cổ đông thường không đồng nhất và không hiếm khi mâu thuẫn, cổ đông lớn có khả năng lợi dụng sức mạnh để bóc lột cổ đông thiểu số7. hư vậy, có thể hiểu công ty là tổ chức do nhà đầu tư vốn thành lập để tiến hành kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
Sự xuất hiện của các loại hình công ty là hệ quả phát triển tất yếu của nền kinh tế. Xuất phát từ nhu cầu liên kết vốn, nhu cầu hợp tác nhằm tăng khả năng cạnh tranh, tạo thế đứng v ng chắc trên thị trường và nhu cầu phân tán rủi ro trong kinh doanh mà công ty ra đời. Nh ng mầm mống của một công ty đã xuất hiện với số lượng lớn từ nh ng năm 1870 ở các nước phương Tây. Sang thế kỷ XVIII, XIX cùng với quá trình công nghiệp hóa ở Châu Âu và Châu Mỹ, công ty đã xuất hiện hàng loạt, phát triển rộng khắp trên thế giới cho đến ngày nay8.
Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế CHLB Đức, NXB. Pháp lý, Hà Nội, tr. Bùi Xuân Hải (2011), Luật doanh nghiệp: Bảo vệ cổ đông - pháp luật và thực tiễn, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.
Davies (2008), Gower and Davies’ Principles of Modern Company Law (eighth edition), Thomson Sweet Maxwell, ondon - United Kingdom, pp.5 và Điều 1 uật số 85-697 của Pháp năm 1985. Phạm Duy gh a 2010 , Giáo trình Luật kinh tế (tái bản lần thứ nhất), NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 Luật gia Nguyễn Thị Thu Vân (1998), Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở Việt Nam hiện nay, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 6 Trước nhu cầu cần có luật lệ ri ng để điều chỉnh sự hình thành, phát triển và chấm dứt hoạt động của công ty, pháp luật công ty ra đời. Trên thế giới, lịch sử pháp luật công ty ra đời gắn liền với các quy định về liên kết, hợp đồng và các quan hệ nợ nần trong Luật La Mã; còn pháp luật công ty hiện đại ra đời trong thời kì tự do hóa tư sản đã phát triển ở mức độ cao9. Ở Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật công ty khá ngắn, “tuổi đời” c n non trẻ.
Các triều đại phong kiến Việt am chưa ban hành pháp luật về công ty mặc dù vẫn có nh ng hoạt động buôn bán kinh doanh10. Dưới thời Pháp thuộc, Bộ dân luật thi hành t i các Tòa Nam án Bắc Kỳ 1931 và Bộ luật th ơng m i Trung Kỳ 1942 đã được ban hành với các quy định về công ty đối nhân và công ty đối vốn. Đến thời kì đất nước bị chia cắt làm hai miền thì miền Bắc không có pháp luật công ty song tại miền Nam, Bộ luật th ơng m i Sài Gòn 1972 ra đời đã quy định rất nhiều mô hình công ty với tên “Hội” như: Hội hợp danh, Hội trách nhiệm h u hạn, Hội cộng tư, Hội cổ phần…11. Sau khi đất nước thống nhất cho đến nay đã có ba đạo luật về công ty được ban hành.
Luật công ty năm 1990 chỉ quy định hai loại hình là công ty trách nhiệm h u hạn và công ty cổ phần, không chấp nhận mô hình công ty do một tổ chức hay cá nhân làm chủ sở h u. Đến Luật doanh nghiệp số H , pháp luật thừa nhận thêm mô hình công ty TNHH một thành viên do pháp nhân làm chủ sở h u. Theo Luật D năm 2 5, Việt am đang có bốn loại hình: công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần. Việc pháp luật hiện hành quy định thêm loại hình công ty TNHH một thành viên (do cá nhân hoặc tổ chức làm chủ sở h u) là một tiến bộ trong việc đa dạng hóa các loại hình công ty, góp phần mở rộng sự lựa chọn của nhà đầu tư.
hư vậy, công ty và pháp luật về công ty ra đời đã đáp ứng được nh ng y u cầu của nền kinh tế thị trường mềm dẻo và năng động. Việc hiểu r đặc trưng của từng loại hình công ty sẽ giúp cho các nhà kinh doanh đưa ra quyết định đầu tư vốn vào công ty một cách đúng đắn nhất và mang lại nhiều lợi nhuận nhất. ặc trƣng của các loại hình công ty Thực tiễn cho thấy, công ty cổ phần là mô hình phổ biến nhất cho doanh nghiệp có quy mô lớn, trong khi hai loại hình công ty trách nhiệm h u hạn rất được ưa chuộng bởi nh ng nhà kinh doanh vừa và nhỏ. Qua sự mô tả của Luật D năm 9 Luật gia Nguyễn Thị Thu Vân (1998), Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở Việt Nam hiện nay, tlđd, tr.
Phạm Duy gh a 2010 , Giáo trình Luật kinh tế (tái bản lần thứ nhất), tlđd, tr. 11 Xem th m Vũ Văn Mẫu (1973), Pháp luật diễn giảng, XB. Đại học quốc gia Hà ội, Hà ội, tr. 7 2005 tại các Điều 38, Điều 63 và Điều 77, dưới đây là khái quát các đặc trưng cơ bản của từng loại hình công ty.
Về tư cách pháp lý Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm h u hạn là các tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ba mô hình công ty này có đầy đủ các đặc điểm để được công nhận là một pháp nhân theo quy định tại Điều 84 BLDS năm 200512. Pháp luật công ty của Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều thừa nhận công ty là một thực thể pháp lý hoàn toàn độc lập với chính các chủ sở h u của nó13. gh a là, tài sản của công ty cũng hoàn toàn độc lập với tài sản của các thành vi n công ty.
Điều này phù hợp với khái niệm “tài sản độc lập” trong chế định pháp nhân: “tài sản thuộc sở h u của pháp nhân không đồng thời thuộc sở h u của thành vi n pháp nhân”14. Vì vậy, khi góp vốn, thành viên phải chuyển quyền sở h u tài sản góp vốn sang công ty theo Điều 29 uật D năm 2005. Khi đó, tài sản của công ty sẽ thuộc quyền sở h u và quyền định đoạt của công ty, chứ không phải của cá nhân thành viên góp vốn. Về thành viên công ty Thành viên công ty là nh ng tổ chức, cá nhân góp vốn vào vốn điều lệ của công ty (kể cả khi đăng ký hay sau khi công ty đã đăng ký kinh doanh.
Họ còn được gọi là chủ sở h u hoặc các đồng chủ sở h u công ty (trong công ty cổ phần, các chủ sở h u được gọi là cổ đông. Chủ thể nhận vốn góp là công ty và đối tác cùng góp vốn là các thành viên. Khác với công ty cổ phần, các thành vi n công ty trách nhiệm h u hạn thường quen biết nhau; b n cạnh yếu tố vốn góp, nhân thân là vấn đề cơ bản được xem xét khi có chủ thể muốn gia nhập vào công ty. Số lượng thành viên tối thiểu theo luật định của công ty TNHH hai thành viên trở lên là hai thành viên trong khi công ty cổ phần là ba cổ đông.
ếu như công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ được có không quá năm mươi thành viên thì số lượng cổ đông tối đa công ty cổ phần không bị hạn chế. Đặc biệt, công ty TNHH một thành viên chỉ có một thành viên góp vốn mà không có đối tác cùng góp vốn. 12 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: i Được thành lập hợp pháp; ii) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; iv hân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. 13 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh - Khoa Luật thương mại (2013), Giáo tr nh Pháp luật về ch th kinh doanh, XB.
Hồng Đức - Hội uật gia Việt am, Hà ội, tr. 14 Phan Huy Hồng - Lê Nết 2005 , “Trách nhiệm tài sản của pháp nhân: h u hạn hay vô hạn”, T p chí Khoa học pháp lý, (31), tr. Về vốn điều lệ Theo định ngh a tại Khoản 6 Điều 4 Luật D năm 2005, vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty. Đặc trưng về vốn điều lệ chính là nền tảng dẫn đến sự khác biệt trong cách thức góp vốn vào từng loại hình công ty.
Thứ nhất, vốn điều lệ của công ty tách biệt với tài sản riêng của thành viên công ty. Tính tách biệt được hiểu là khác biệt nhau và được phân định cụ thể bằng việc chuyển quyền sở h u tài sản góp vốn sang công ty khi thành viên góp vốn. Bên cạnh đó, việc đưa tài sản vào vốn điều lệ công ty hay các thay đổi về vốn từ việc góp thêm vốn, chuyển nhượng, tặng cho giá trị vốn góp… đều phải tuân theo trình tự và thủ tục luật định. Xét cho cùng, đảm bảo sự tách biệt gi a tài sản thành viên và tài sản công ty chính là cơ sở để thành vi n hưởng chế độ trách nhiệm h u hạn.
Thứ hai, vốn điều lệ của loại hình công ty trách nhiệm h u hạn là thống nhất.