Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định góp vốn vào công ty là nội dung nền tảng trong pháp luật doanh nghiệp, trực tiếp xác lập quyền sở hữu, cơ cấu tổ chức và tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Trong tác phẩm Tinh thần pháp luật, Montesquieu đã khẳng định tự do gắn liền với khuôn khổ pháp luật; ngày nay, quyền tự do góp vốn kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thừa nhận rộng rãi như một quyền cơ bản. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các mô hình công ty ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tích tụ vốn nhanh chóng, phân tán rủi ro và tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia đầu tư sinh lời.

Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đã ghi nhận nhiều quy định tiến bộ về tài sản góp vốn, đối tượng góp vốn và việc cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật đã bộc lộ nhiều khoảng trống và bất cập. Trên thực tế, các vướng mắc về định giá tài sản, chuyển giao quyền sở hữu tài sản sang công ty, thủ tục đăng ký và giám sát tiến độ góp vốn đã làm phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp, tiêu biểu là tranh chấp về phân chia lợi nhuận khi thành viên chưa hoàn thành cam kết góp vốn, tình trạng góp vốn danh nghĩa hoặc kê khai khống vốn điều lệ dẫn đến sự xuất hiện của các "công ty ma".

Trước thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Trần Thị Kim Nga (Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2013 dưới sự hướng dẫn của ThS. Từ Thanh Thảo) đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản: Phân tích đặc trưng pháp lý của các loại hình công ty; làm rõ khái niệm, bản chất, chủ thể, tài sản và ý nghĩa của hành vi góp vốn; giải thích sự chi phối của cấu trúc vốn điều lệ đến cách thức góp vốn trong từng mô hình doanh nghiệp.
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành: Phân tích các ưu điểm và hạn chế trong các điều khoản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 cùng văn bản hướng dẫn; tiếp cận và bình luận các vụ việc tranh chấp phát sinh trong thực tế liên quan đến định giá, chuyển giao tài sản và thực hiện nghĩa vụ góp vốn.
  3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện: Trên cơ sở đối chiếu thực trạng áp dụng luật tại Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm lập pháp quốc tế, đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về góp vốn vào công ty.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng về góp vốn vào ba loại hình công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, Công ty TNHH một thành viên và Công ty cổ phần.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tác giả tập trung phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành (như Nghị định 102/2010/NĐ-CP). Đề tài loại trừ mô hình công ty hợp danh do bản chất công ty đối nhân ít chú trọng đến yếu tố vốn và ít phát sinh tranh chấp trên thực tế. Đề tài cũng không nghiên cứu sâu về chế tài xử lý vi phạm hành chính/hình sự, chế độ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài hay các quy định quản trị doanh nghiệp chuyên ngành khác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, học thuyết pháp lý và các án lệ/tranh chấp thực tiễn:

  • Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh:

    • Bộ luật Dân sự năm 2005 (Luật số 33/2005/QH11): Quy định về tư cách pháp nhân (Điều 84), tách biệt nghĩa vụ tài sản (Điều 93), phân loại tài sản (Điều 163).
    • Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Luật số 60/2005/QH11): Các điều khoản về giải thích từ ngữ (Điều 4), hành vi bị cấm (Điều 11), quyền thành lập và góp vốn (Điều 13), hồ sơ đăng ký kinh doanh (Điều 21, 23), chuyển quyền sở hữu tài sản (Điều 29), quy chế vốn và thành viên công ty TNHH (Điều 38, 39, 40, 45, 60, 63, 65) và công ty cổ phần (Điều 77, 80, 84, 85, 86, 87, 89).
    • Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp (Điều 5, 6, 10, 12, 13, 14, 18, 23).
    • Các văn bản liên quan khác: Nghị định số 43/2010/NĐ-CP và Nghị định số 05/2013/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp; Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (Điều 4, 20); Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 - Điều 37); Luật Phá sản năm 2004 (Điều 94).
    • Pháp luật so sánh và lịch sử: Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Thương mại Trung Kỳ 1942, Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972, Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 1999; Điều 1832 Bộ luật Dân sự Pháp; Luật Công ty Đức; Luật Công ty năm 2005 của Trung Quốc (Điều 26, 27); Luật Công ty Úc; pháp luật Hoa Kỳ và Nguyên tắc quản trị công ty của OECD (2004).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích quá trình hình thành các mô hình công ty và quy chế pháp lý tương ứng.
    • Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm, logic học và đối chiếu án lệ thực tế.
    • Chú trọng phương pháp so sánh luật học để làm rõ sự khác biệt giữa cấu trúc vốn của công ty TNHH và công ty cổ phần, đồng thời đối chiếu pháp luật Việt Nam với các quy chuẩn quốc tế.
  • Nguồn dữ liệu:

    • Dữ liệu sơ cấp: Các điều khoản luật thực định, văn bản dưới luật, số liệu đăng ký kinh doanh và hồ sơ các vụ tranh chấp thực tiễn.
    • Dữ liệu thứ cấp: Giáo trình và công trình nghiên cứu chuyên khảo của các chuyên gia đầu ngành (TS. Bùi Xuân Hải, TS. Lê Nết, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, ThS. Từ Thanh Thảo...), các bài viết trên Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về góp vốn vào công ty

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về công ty, hành vi góp vốn và mối quan hệ giữa cấu trúc vốn với phương thức góp vốn:

  • Khái quát về các loại hình công ty:

    • Lịch sử hình thành: Khái niệm công ty phát triển từ học thuyết khế ước (Điều 1832 BLDS Pháp) và liên kết pháp lý (Đức) sang mô hình tổ chức tìm kiếm lợi nhuận độc lập, bao gồm cả mô hình một chủ. Tại Việt Nam, sau giai đoạn áp dụng các đạo luật thời Pháp thuộc và Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972, pháp luật hiện đại phát triển qua Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 1999 và hoàn thiện tại Luật Doanh nghiệp 2005 với bốn loại hình doanh nghiệp.
    • Đặc trưng cơ bản: Khảo sát 4 yếu tố cốt lõi: Tư cách pháp nhân độc lập (tài sản công ty tách biệt với tài sản thành viên theo Điều 84 BLDS 2005); Cơ cấu thành viên (công ty TNHH 2 thành viên trở lên giới hạn từ 2 đến 50 thành viên; công ty cổ phần tối thiểu 3 cổ đông và không hạn chế tối đa; công ty TNHH 1 thành viên chỉ có 1 chủ sở hữu); Vốn điều lệ (tính thống nhất ở công ty TNHH so với tính chia nhỏ thành cổ phần ở công ty cổ phần); Chế độ trách nhiệm hữu hạn (thành viên chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp hoặc cam kết góp; công ty chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản hiện có).
  • Khái quát chung về góp vốn vào công ty:

    • Khái niệm và đặc điểm: Theo Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005, góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các đồng chủ sở hữu. Hành vi này có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp (chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho phần vốn góp/cổ phần).
    • Chủ thể góp vốn: Pháp luật mở rộng quyền cho mọi cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước (Khoản 1 Điều 12, 13 Nghị định 102/2010/NĐ-CP). Các đối tượng bị cấm được phân định rõ thành hai nhóm: Nhóm cấm hoàn toàn (cơ quan nhà nước/đơn vị vũ trang dùng tài sản công thu lợi riêng; cán bộ, công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Phòng, chống tham nhũng) và Nhóm chỉ bị cấm khi thành lập doanh nghiệp mới (Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều 94 Luật Phá sản 2004).
    • Tài sản góp vốn: Bao gồm tài sản hữu hình (tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giấy tờ có giá) và tài sản vô hình (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, công nghệ, quyền sử dụng nhãn hiệu).
    • Ý nghĩa của hành vi góp vốn: Đối với công ty, tạo dựng vốn điều lệ ban đầu và xác lập tư cách pháp lý; đối với thành viên, xác lập tư cách thành viên, tỷ lệ biểu quyết và quyền phân chia lợi nhuận; đối với chủ nợ, xác định giới hạn trách nhiệm vật chất và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
  • Cấu trúc vốn điều lệ và cách thức góp vốn:

    • Phân tích cấu trúc: Trong công ty TNHH, vốn điều lệ là một khối thống nhất, được xác định sau thông qua phép cộng dồn giá trị phần vốn góp của các thành viên. Trong công ty cổ phần, vốn điều lệ là một chỉ số được xác định trước, chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần (thể hiện qua cổ phiếu), cho phép phát hành chứng khoán để huy động vốn rộng rãi ra công chúng.

Chương 2: Pháp luật về góp vốn vào công ty - Thực trạng và hướng hoàn thiện

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định, nhận diện các mâu thuẫn văn bản, đánh giá tranh chấp thực tế và đề xuất giải pháp:

  • Quy định pháp luật hiện hành và các điểm nghẽn:

    • Đăng ký góp vốn và vốn pháp định: Luật Doanh nghiệp 2005 bãi bỏ yêu cầu vốn tối thiểu đối với đa số ngành nghề (khác với mức 25.000 EUR của Đức hay 30.000 Nhân dân tệ của Trung Quốc) nhằm thúc đẩy tự do kinh doanh. Yêu cầu vốn pháp định chỉ áp dụng cho một số ngành nghề đặc thù, tuy nhiên phát sinh kẽ hở khi nhân viên ngân hàng hoặc tổ chức giám định câu kết xác nhận khống.
    • Thay đổi loại tài sản góp vốn: Khoản 1 Điều 39 Luật Doanh nghiệp 2005 đòi hỏi sự nhất trí tuyệt đối (100%) của các thành viên còn lại trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, điều này bị đánh giá là quá cứng nhắc khi giá trị phần vốn không thay đổi.
    • Thời hạn và thời điểm hoàn thành góp vốn: Công ty cổ phần quy định thời hạn 90 ngày cho cổ đông sáng lập và cổ đông đăng ký ban đầu. Đối với công ty TNHH, Luật Doanh nghiệp 2005 cho phép tự thỏa thuận, nhưng Khoản 3 Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP lại khống chế thời hạn tối đa không quá 36 tháng, tạo ra sự mâu thuẫn về hiệu lực và giới hạn quyền định đoạt của nhà đầu tư.
    • Xung đột về quyền của thành viên chưa góp đủ vốn: Luật Doanh nghiệp 2005 xác định quyền biểu quyết và chia lợi nhuận theo phần vốn cam kết ghi trong Điều lệ; ngược lại, Khoản 3 Điều 18 Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định phân chia theo tỷ lệ "vốn thực góp", gây lúng túng cho Tòa án khi giải quyết tranh chấp.
    • Giám sát và xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn: Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ kiểm tra tiến độ khi có yêu cầu từ thành viên sở hữu tối thiểu 25% vốn (công ty TNHH) hoặc 10% vốn (công ty cổ phần), dẫn đến tính thụ động trong quản lý. Khi thành viên không góp đủ vốn, luật đưa ra 3 cách thức xử lý (thành viên khác nhận góp, phân bổ theo tỷ lệ, huy động người ngoài), nhưng chưa giải quyết triệt để trường hợp không ai nhận góp thêm, buộc cơ quan đăng ký kinh doanh phải chủ động điều chỉnh giảm vốn điều lệ theo Nghị định 102.
    • Bất cập về chấm dứt tư cách thành viên: Khoản 3 Điều 39 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định thành viên chưa góp đủ vốn đương nhiên mất tư cách thành viên khi phần vốn được góp đủ bởi người khác, điều này không hợp lý đối với người đã góp một phần vốn. Ngoài ra, việc người ngoài nhận góp phần vốn thiếu đương nhiên trở thành "cổ đông sáng lập" (Điểm c Khoản 3 Điều 84) mâu thuẫn với định nghĩa tại Khoản 11 Điều 4.
  • Thực trạng tranh chấp thực tế: Khóa luận phân tích 3 nhóm tranh chấp điển hình:

    1. Tranh chấp về định giá tài sản góp vốn: Gian lận nâng khống giá trị tài sản vô hình, tài sản không tương xứng với giá trị thực tế.
    2. Tranh chấp về chuyển quyền sở hữu tài sản: Không hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu sang tên công ty theo Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2005.
    3. Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ góp vốn: Tranh chấp quyền biểu quyết và chia lợi tức khi có thành viên chậm góp vốn hoặc không góp đủ theo cam kết.
  • Hướng hoàn thiện quy định pháp luật: Đề xuất 4 nhóm giải pháp:

    1. Về cách thức và tài sản góp vốn: Hoàn thiện khung định giá tài sản vô hình (quyền sử dụng nhãn hiệu); nới lỏng điều kiện thay đổi loại tài sản góp vốn khi không làm giảm giá trị cam kết.
    2. Về thủ tục và thời hạn góp vốn: Thống nhất thời hạn góp vốn giữa Luật và Nghị định, tôn trọng quyền thỏa thuận trong Điều lệ; chuẩn hóa quy trình cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp.
    3. Về thực hiện nghĩa vụ góp vốn: Sửa đổi quy định về quyền lợi của thành viên chưa hoàn thành cam kết theo hướng nhất quán; bổ sung cơ chế xử lý phần vốn đã góp một phần để bảo vệ quyền tài sản hợp pháp của thành viên.
    4. Về quy chế giám sát: Chuyển từ cơ chế tiền kiểm hình thức sang tăng cường hậu kiểm chủ động; quy định rõ trách nhiệm của người xác nhận vốn pháp định và chế tài đối với hành vi khai khống vốn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và so sánh toàn diện các quy chế pháp lý về góp vốn giữa các mô hình doanh nghiệp cơ bản theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005:

Tiêu chí pháp lý Công ty TNHH hai thành viên trở lên Công ty TNHH một thành viên Công ty Cổ phần
Số lượng thành viên Từ 2 đến 50 thành viên 1 chủ sở hữu duy nhất Tối thiểu 3 cổ đông, không giới hạn tối đa
Bản chất vốn điều lệ Khối tài sản thống nhất, xác định sau từ các phần vốn góp Toàn bộ giá trị phần vốn góp duy nhất của chủ sở hữu Chia nhỏ thành các cổ phần bằng nhau có mệnh giá, xác định trước
Khả năng huy động vốn Không được phát hành cổ phần Không được phát hành cổ phần Được phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán
Giới hạn trách nhiệm tài sản Phần vốn cam kết góp vào công ty Toàn bộ vốn điều lệ cam kết góp Số cổ phần đã thanh toán / đăng ký mua
Thời hạn góp vốn Theo thỏa thuận / không quá 36 tháng (NĐ 102) Theo cam kết / không quá 36 tháng (NĐ 102) 90 ngày đối với cổ đông sáng lập và cổ phần đăng ký ban đầu
Xác lập tư cách sở hữu Giấy chứng nhận phần vốn góp, Sổ ĐK thành viên Giấy chứng nhận ĐKDN, Điều lệ công ty Sổ đăng ký cổ đông, Cổ phiếu
Quyền kiểm tra tiến độ của CQ ĐKKD Khi có yêu cầu từ thành viên sở hữu ≥ 25% vốn Chưa có quy định cụ thể Khi có yêu cầu từ cổ đông sở hữu ≥ 10% vốn

Những đóng góp khoa học chính mà tác giả tự khẳng định trong công trình gồm:

  • Hệ thống hóa lý luận: Làm rõ sự chi phối của cấu trúc vốn điều lệ đối với quy chế góp vốn ở cả ba loại hình doanh nghiệp, đặc biệt bổ sung phân tích sâu về công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần.
  • Chỉ ra các mâu thuẫn thực định:
    1. Mâu thuẫn giữa quy định xác định quyền lợi thành viên theo vốn cam kết trong Luật Doanh nghiệp 2005 và quy định theo vốn thực góp tại Khoản 3 Điều 18 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.
    2. Mâu thuẫn về điều kiện trở thành "cổ đông sáng lập" giữa Điểm c Khoản 3 Điều 84 và Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005.
    3. Khoảng trống pháp luật trong việc xử lý tư cách thành viên và phần vốn đã góp đối với trường hợp thành viên chỉ hoàn thành một phần nghĩa vụ góp vốn.
  • Đề xuất lập pháp: Đưa ra hệ thống giải pháp sửa đổi cụ thể cho Luật Doanh nghiệp, bảo đảm sự thống nhất với hệ thống văn bản hướng dẫn và phù hợp với thông lệ pháp lý quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Đề tài không nghiên cứu quy chế góp vốn vào công ty hợp danh do đặc thù đối nhân và số lượng thực tế rất thấp tại thời điểm nghiên cứu.
    • Chưa đi sâu phân tích hệ thống chế tài hành chính và hình sự đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ góp vốn.
    • Chưa mở rộng nghiên cứu cơ chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư và các cam kết quốc tế.
    • Phạm vi khảo sát thực tiễn chủ yếu dựa trên các quy định pháp luật và tranh chấp phát sinh trong giai đoạn áp dụng Luật Doanh nghiệp 2005 đến năm 2013.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng nghiên cứu quy chế góp vốn và huy động vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng.
    • Nghiên cứu cơ chế "xuyên qua màn che công ty" (piercing the corporate veil) nhằm xử lý trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên khi vi phạm nghĩa vụ phân tách tài sản.
    • Đánh giá tác động của việc cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh và cơ chế hậu kiểm vốn điều lệ theo các sửa đổi luật doanh nghiệp trong giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần về Pháp luật chủ thể kinh doanh và Pháp luật doanh nghiệp.
    • Luật sư, chuyên viên pháp chế và nhà tư vấn đầu tư tham khảo khi soạn thảo điều lệ, hợp đồng góp vốn và giải quyết các tranh chấp nội bộ công ty.
    • Các nhà sáng lập, nhà đầu tư nghiên cứu để hiểu rõ quyền hạn, nghĩa vụ tài chính và rủi ro pháp lý liên quan đến cam kết góp vốn.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:

    • Phần phân tích lý luận về sự khác biệt trong cấu trúc vốn điều lệ giữa công ty TNHH và công ty cổ phần (tiểu mục 1.3).
    • Phần bình luận các điểm xung đột giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP về thời hạn góp vốn, quyền biểu quyết và cách thức xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn (tiểu mục 2.1).

Câu hỏi thường gặp

1. Vốn điều lệ của công ty TNHH và công ty cổ phần có sự khác biệt bản chất nào về mặt cấu trúc và thời điểm xác định?
Vốn điều lệ của công ty TNHH là một khối thống nhất, được xác định sau thông qua việc cộng dồn giá trị các phần vốn góp của từng thành viên. Ngược lại, vốn điều lệ của công ty cổ phần là một chỉ số được xác định trước, sau đó được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần với mệnh giá nhất định.

2. Những đối tượng nào bị cấm hoàn toàn quyền góp vốn vào công ty theo quy định của pháp luật?
Nhóm đối tượng bị cấm hoàn toàn (cả khi thành lập và khi công ty đã hoạt động) gồm: (1) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn thu lợi riêng cho đơn vị mình; (2) Cán bộ, công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Phòng, chống tham nhũng (đặc biệt là người đứng đầu, cấp phó hoặc vợ/chồng của họ góp vốn vào doanh nghiệp thuộc ngành, nghề do mình trực tiếp quản lý).

3. Mâu thuẫn pháp lý cơ bản giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP về quyền lợi của thành viên chưa góp đủ vốn cam kết là gì?
Luật Doanh nghiệp 2005 thừa nhận vốn điều lệ bao gồm cả vốn cam kết, do đó quyền biểu quyết và chia lợi nhuận của thành viên được xác định tương ứng với tỷ lệ vốn cam kết ghi trong Điều lệ. Ngược lại, Khoản 3 Điều 18 Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định quyền biểu quyết và tỷ lệ chia lợi tức phải căn cứ trên tỷ lệ "vốn thực góp", tạo ra sự xung đột trực tiếp giữa văn bản luật và nghị định hướng dẫn.

4. Khi thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên không góp đủ số vốn đã cam kết sau thời hạn quy định, số vốn thiếu được xử lý theo những cách thức nào?
Số vốn chưa góp đủ được xử lý theo một trong ba phương thức: (1) Một hoặc một số thành viên còn lại nhận góp đủ; (2) Các thành viên còn lại góp đủ theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ; (3) Huy động người khác ngoài công ty tham gia góp vốn. Trường hợp không thực hiện được các cách trên, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ điều chỉnh giảm vốn điều lệ tương ứng với số vốn thực góp.

5. Cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền chủ động kiểm tra tiến độ góp vốn của công ty hay không?
Theo quy định tại Khoản 9 Điều 18 và Khoản 8 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP, cơ quan đăng ký kinh doanh không chủ động kiểm tra mà chỉ thực hiện kiểm tra tiến độ góp vốn khi có yêu cầu từ một hoặc một số thành viên sở hữu ít nhất 25% vốn điều lệ (đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên) hoặc cổ đông sở hữu ít nhất 10% vốn điều lệ (đối với công ty cổ phần).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Kim Nga đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định góp vốn vào công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Công trình phân tích sâu sắc mối liên hệ giữa cấu trúc vốn điều lệ và quy chế góp vốn, đồng thời vạch rõ các điểm bất cập, mâu thuẫn giữa luật thực định và văn bản hướng dẫn thi hành. Các giải pháp lập pháp được đề xuất trong công trình mang giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện khung pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam.