CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Tổng quan về xử lý nợ xấu 1. Khái niệm về nợ xấu Có rất nhiều khái niệm về nợ xấu trên thế giới, nó được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo từ điển kinh doanh, nợ xấu là khoản nợ không có khả năng thu hồi và được xử lý như khoản lỗ. Chủ nợ có thể dùng một trong hai phương pháp để xoá nợ ra khỏi doanh thu bán hàng: (1) bằng cách khấu trừ vào doanh thu khoản tiền không thể thu hồi trong giai đoạn kế toán những khoản nợ được coi là không thể thu hồi; (2) bằng cách khấu trừ một khoản tiền ước tính vào doanh thu trong từng giai đoạn kế toán rồi điều chỉnh bất kỳ khoản thừa hoặc thiếu nào vào giai đoạn kế toán tiếp theo.
Tỷ lệ giữa những thất thoát vốn vì nợ xấu và các khoản bán chịu là một chỉ số về chất lượng thu hồi nợ của chủ nợ và hiệu quả của những nỗ lực giám sát bán chịu của chủ nợ.01 Trong khi đó về phương diện ngôn ngữ học, từ điển Cambridge định nghĩa, nợ xấu là khoản nợ hoặc những khoản nợ rất có thể không được hoàn trả. Cách hiểu này về “nợ xấu” cơ bản đã giành được sự nhất trí bởi các nhà tài chính học và kinh doanh học mặc dù các nhà khoa học trong cả hai lĩnh vực chuyên ngành hẹp này đều lý giải thuật ngữ “nợ xấu” kỹ lưỡng hơn so với các nhà ngôn ngữ học thuần tuý. Theo từ điển tài chính, nợ xấu là khoản nợ từ việc bán chịu (credit sale) mà bên chủ nợ không có khả năng thu hồi. Một khoản nợ trở thành nợ xấu khi bên chủ nợ đã hết sức nỗ lực để thu hồi nợ nhưng vẫn chưa thu hồi được khoản nợ đó.
Thông thường, hiện tượng này diễn ra khi con nợ tuyên bố phá sản hoặc khi việc cố gắng tiếp tục thu hồi nợ sẽ làm cho bên chủ nợ phải chịu những phí tổn lớn hơn cả bản thân giá trị khoản nợ. Khi đó, chủ nợ thường phải xoá nợ và coi đó là một khoản chi phí trong kinh doanh để nhằm giảm bớt thu nhập chịu thuế mặc dù việc làm này thường 1 Hoàng Văn Thành, ”Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2019, tr. 7 dẫn tới hao hụt dòng tiền hết sức cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của chủ nợ. Như vậy, mặc dù các nhà tài chính học và kinh doanh học định nghĩa “nợ xấu” chi tiết hơn các nhà ngôn ngữ học, nhưng điểm chung của cả hai định nghĩa trên là ở chỗ đều thừa nhận “nợ xấu” là những khoản nợ không có khả năng được hoàn trả hay khó có thể thu hồi.
Chỉ có điều, các nhà tài chính học dường như ngoài việc chỉ ra một thuộc tính không thể tách rời của nợ xấu là “khó thu hồi” còn quan tâm tới cả những tình huống trong đó một khoản nợ có khả năng trở thành “nợ xấu” (khi con nợ phá sản hoặc khi chi phí chủ nợ bỏ ra để thu hồi nợ trở nên quá lớn) và tới cả cách thức hạch toán những khoản nợ xấu nhằm giảm bớt nghĩa vụ thuế của chủ nợ; trong khi đó, các nhà kinh doanh học, mặc dù cũng đề cao thuộc tính “khó thu hồi” của nợ xấu và cũng quan tâm tới cách hạch toán các khoản nợ xấu, nhưng lại hướng tới mục đích nhằm nâng cao chất lượng thu hồi nợ và tăng cường hiệu quả giám sát việc bán chịu của chủ nợ - tức nâng cao chất lượng quản trị kinh doanh. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ.2 Dưới góc độ pháp lý, nợ xấu là tài sản cho vay khó thu hồi của TCTD thể hiện dưới dạng quyền tài sản: một loại quyền định giá được bằng tiền và có thể mua đi bán lại trên một thị trường đặc biệt - thị trường nợ xấu. Nợ xấu bắt nguồn từ một 2 Huỳnh Thị Hương Thảo, 2019, nợ xấu và hiệu quả tài chính, http://thị trường tài chính tiền tệ.vn/nợ xấu và hiệu quả tài chính 23113.html, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 5/2019, truy cập ngày 20/11/2019 8 khoản tiền TCTD cấp cho khách hàng vay sử dụng trong khoảng thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của các bên và khi hết thời hạn này, TCTD có quyền thu hồi số tiền đã cấp nhưng gặp khó khăn ở khâu thu hồi vốn và lãi. Giá trị của quyền tài sản này phụ thuộc vào số tiền TCTD đã cấp cho khách hàng và số lãi xác định theo lãi suất đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng. Vì quyền tài sản này có thể chuyển giao trong các giao dịch dân sự nên TCTD hoàn toàn có thể bán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu.
Tuy nhiên, do nợ xấu là những khoản nợ khó thu hồi và tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao nên giá mua bán cần được tính toán lại theo những phương pháp xác định giá phù hợp nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên. Tại Điều 3 Thông tư 02/TT-NHNN của thống đốc NHNN ngày 21/01/2013: Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4, và 5”. Và cũng tại Điều 10 Thông tư này được hiểu nhóm 3 là nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 là nhóm nợ nghi ngờ và nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn Thông qua những phân tích trên có thể hiểu, nợ xấu từ hoạt động cho vay của TCTD là một loại quyền tài sản hình thành khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với TCTD không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ sau một khoảng thời gian luật định hoặc được TCTD nhận định khách hàng rất có thể không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, so với định nghĩa “nợ xấu” dưới góc độ tài chính và kinh doanh, định nghĩa “nợ xấu” theo nghĩa pháp lý mặc dù cũng nhất trí về thuộc tính quá hạn của khoản nợ nhưng dường như không đề cao những khía cạnh hạch toán khoản nợ và mục đích giảm bớt chi phí cũng như tăng cường hiệu quả quản trị kinh doanh của Người cho vay (TCTD).
Thay vào đó, các nhà luật học đề cao bản chất pháp lý của nợ xấu bằng cách nhìn nhận nợ xấu dưới góc độ pháp lý, là: quyền tài sản của chủ nợ; là nghĩa vụ trả nợ không được thực hiện bởi con nợ; là quyền thu hồi nợ của chủ nợ. Và những quyền cũng như nghĩa vụ này luôn phải được nhìn nhận gắn với một 9 ngưỡng thời gian luật định nào đó mà nếu chưa tới ngưỡng đó thì khoản nợ chưa thể coi là “nợ xấu”. Đặc điểm về nợ xấu - Nợ xấu từ hoạt động cho vay của TCTD theo nghĩa pháp lý là nói tới những khoản nợ ngân hàng thoả mãn ba điều kiện sau: (1) khách hàng (Người vay) không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với TCTD (Người cho vay); (2) việc trì hoãn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã vượt quá một khoảng thời gian luật định; và (3) Người cho vay nhận thấy nguy cơ không có khả năng thu hồi nợ ở thời điểm nghĩa vụ trả nợ bị trì hoãn tới ngưỡng thời gian nói trên. - Nợ xấu là nghĩa vụ pháp lý không được thực hiện.
Đó là nghĩa vụ của khách hàng vay phải trả gốc và lãi cho TCTD. Nghĩa vụ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng vay vốn đã được xác lập giữa TCTD và khách hàng. Về nguyên tắc, nghĩa vụ này phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng vay vốn đáo hạn nhưng không được khách hàng vay thực hiện đúng và đầy đủ, nhưng điều đó không có nghĩa, mọi nghĩa vụ trả nợ không đúng hạn đều là nợ xấu. Mọi khoản nợ chỉ được đánh giá là nợ xấu khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình sau một khoảng thời gian nhất định hoặc bản thân TCTD nhận định khách hàng khó có khả năng trả nợ do bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán hay chủ doanh nghiệp bỏ trốn.
- Nợ xấu là một loại tài sản trong giao dịch dân sự vì vậy TCTD có toàn quyền lựa chọn phương án bán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu, trừ trường hợp giữa TCTD và khách hàng vay đã có thỏa thuận trước đó về việc không bán nợ xấu. Như vậy, nợ xấu không phải là thứ tài sản bỏ đi, không có giá trị hay “hoàn toàn xấu” như tên gọi của loại nợ này ngụ ý, nếu được đánh giá đúng, nợ xấu có thể trở thành “mặt hàng” tiềm năng trên thị trường và mua bán nợ xấu có thể trở thành ngành nghề kinh doanh mang lại lợi nhuận lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ. - Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả nợ. Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh 10 doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được.
- Chủ thể của khoản nợ xấu (Khách hàng vay): là các đối tượng vay vốn phải có khả năng trả nợ hoặc phải có bảo đảm tại thời điểm vay.