CHƯƠNG 1 KHÁI QUAT CHUNG VE NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHAP LUẬT CUA DOANH NGHIỆP VA QUY CHE PHÁP LY VE NGƯỜI DAI DIEN THEO PHAP LUAT CUA DOANH NGHIEP 1. Khái niệm và đặc điểm của người dai diện theo pháp luật của doanh nghiệp 1. Khái niệm đại diện, người dai diện theo pháp luật và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Khái niệm dại diện và nguồn sốc của chế định đại diện, những học thuyết nghiên cứu về chế định “đại điện” xuất hiện từ rất sớm. Điền hình là các tác phẩm: Tài sản của Quốc gia (The Wealth of Nations) của Adam Smith cho rằng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tin tưởng rằng người quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vi trí của minh dé tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho các cổ đông và công ty.
Trong nghiên cứu của mình, Adam Smith đã dự đoán xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty (separation of ownership and control). Hay tác phâm Công ty hiện đại và sở hữu tư nhân (The Modern Corporation and Private Property) cua Adolf A. Berle va Gardiner C. Means: Hai tac giả cũng cho rằng mô hình công ty hiện đại ngày nay là đại điện của một hình thức mới về tài sản, mà tài sản đó lại được kiểm soát, quản lý bởi những người quản lý công ty (những người làm thuê) hơn là các cô đông (những chủ sở hữu thực sự của tài sản).
Nhìn chung, các tác giả nói trên đã chỉ ra xu hướng phát triển của các công ty hiện đại cần có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty. Ở Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt, đại diện là: “Thay mặt cho cá nhân hoặc tô chức làm việc gì ”, Trong khi đó, theo Từ điển Luật học, đại diện là: “Việc một người, một cơ quan, tô chức nhân danh nguoi, co quan tô chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong quy định cho phép”. Trên thế giới, chế định đại diện là chế định quan trọng trong pháp luật tư, được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia và hệ thống pháp luật. Theo truyền thống ? Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb.
Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 3 Viện Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp (2006), Từ điên Luật học, Nxb. Tư pháp và Nxb. Từ dién Bách khoa, Ha Nội, tr.
“Common law”, đại điện có vai trò trong mọi mặt đời sông xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng. Đại điện thúc day sự phân công lao động xã hội với một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn và được những học thuyết riêng ghi nhận. Sự phát triển của chế định đại diện dựa trên nền tảng tư tưởng của trường phái luật tự nhiên trong bối cảnh thương mại và công nghiệp đang phát triển mạnh". Có quan niệm rang pháp luật về đại diện trong Common Law được bắt nguồn từ một châm ngôn La tinh “Đại diện là hành động của một người thông qua một chủ thể khác được pháp luật coi là hành động của chính người đó””.
Có quan niệm khác thì lại cho rằng vấn đề đại diện lúc này như “giao một con tàu cho thuyền trưởng điều khiển và quản lý hay hoạt động kinh doanh thông qua sự điêu hành của người khác”. Quan hệ đại diện là một dạng quan hệ phức hợp được tạo bởi quan hệ giữa người ủy quyền (principal), người đại diện (agent) và người thứ ba (third party)’. Đối với pháp luật công ty, các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm điều chỉnh van dé đại diện. Theo lý thuyết về đại diện của mình, Jensen và Mecklin cho rang: “Ly thuyét đại điện liên quan đến một hop đồng theo đó một hodc vài người (cô đông) giao cho người khác (thành viên HĐQT) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, trong do có việc uy quyên ra quyết định cho đại diện.
Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này là những người muốn toi đa hóa lợi ích, chúng ta có ly do dé tin rang đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ”5. Sự phát triển của van dé phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty làm tiền dé cho sự xuất hiện lý thuyết về người chủ và người đại điện. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cô đông (những người chủ sở hữu - principals), bồ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy- agents) dé thực hiện việc quản ly công ty cho họ, ma trong đó bao gồm cả việc trao thâm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty’. Theo Từ điển Black Law Dictionary ban thứ 9 Nguyễn Vũ Hoàng (2013), Chế định đại diện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng, Tap chí Luật hoc (2), tr.
> Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whiteheard (1985), Business Law, Made Simple books, London, P. 5 Ngô Huy Cương (2009), Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam- Nhìn từ góc độ Luật so sánh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (4), tr. 7 Hồ Ngọc Hiền (2007), Nghĩa vụ người đại điện và người ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam, Tap chí Nhà nước và Pháp luật, (3), tr. 8 Michael C Jensen and William Meckling (1976), Theory of the Firm, Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership, Structure, Journal of Financial Economics, October, 3, p.
° Bùi Xuân Hải (2007), Nghĩa vụ người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hoa Ky trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (4), tr. thì thuật ngữ “Đại diện” được dùng dé biểu đạt quan hệ một chủ thê nhân danh và vì lợi ich của một chủ thê khác dé giao kết, thực hiện một giao dịch!9, Ở Việt Nam, khái niệm “đại điện” trước hết được quy định trong BLDS năm 2015. Cụ thé: theo Điều 134 BLDS năm 2015 định nghĩa về đại diện như sau: “Đại điện là việc ca nhân, pháp nhân (sau day gọi chung là người đại điện) nhân danh và vì lợi ích của ca nhân hoặc pháp nhân khác (sau đáy gọi chung là người được đại điện) xác lập,thực hiện giao dịch dân sự”!!. Mặc dù mới hình thành và phát triển chưa lâu nhưng pháp luật dân sự Việt Nam đã có tiếp thu tương đối đầy đủ những học thuyết về đại diện.
Pháp luật Việt Nam tiếp cận khái niệm đại diện theo quan điểm tương đối hài hòa với các hệ thống pháp luật trên thế giới, có lẽ xuất phát từ việc van dé đại diện của pháp luật Việt Nam có nguồn gốc từ trường phái luật tự nhiên giống với BLDS Pháp. Từ những phân tích nêu trên, có thé rút ra định nghĩa khái quát về đại diện như sau: Đại điện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) thay mặt cho cá nhân, pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với danh nghĩa và vì lợi ích của người được đại diện. Khai niệm người đại diện theo pháp luật Theo quy định tại Điều 135 BLDS 2015: Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại điện và người đại điện (sau đây gọi là đại điện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nha nước có thâm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật). Như vậy, có thé hiểu: NDDTPL là người đại điện của cá nhân hoặc pháp nhân do pháp luật, điều lệ của pháp nhân quy định hoặc do cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định mà không phải do bên đại diện và bên được đại diện thoả thuận xác lập.
Điều 136 và Điều 137 BLDS 2015 quy định cụ thé về NDDTPL của cá nhân và pháp nhân như sau: Thứ nhất, NDDTPL của cá nhân bao gom: Cha, mẹ đôi với con chưa thành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ; Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là NDDTPL nếu được Tòa án chỉ định; Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện; Người do Tòa án chỉ định đôi với người bi hạn chê năng lực hành vi dan sự. 10 Từ điền Black Law Dictionary, p. 11 Điêu 134 Bộ luật dân sự năm 2015 10 Thứ hai, NDDTPL của pháp nhân bao gôm: Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; Người có thâm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tô tụng tai Tòa án. Một pháp nhân có thé có nhiều NDDTPL và mỗi người đại điện có quyền đại điện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của BLDS 2015.
Khai niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp DN là một trong những hình thức tổ chức kinh doanh mà các nhà đầu tư có quyền lựa chọn đề thực hiện hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lợi. Theo quy định của LDN năm 2020, DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. DN có thể có tư cách pháp nhân (công ty cô phan, công ty trách nhiệm hữu han, công ty hợp danh) hoặc không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân). La một tổ chức, DN không thé trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của DN hay xác lập, thực hiện các giao dịch với bên thứ ba, mặc dù đối với một DN có tư cách pháp nhân, pháp luật dân sự đã công nhận năng lực tự chịu trách nhiệm băng toàn bộ tài sản của mình và tự nhân danh chính mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Theo đó, dé tham gia vào các quan hệ pháp luật, DN cần có người đại diện. Người đại diện của DN có thể bao gồm NDDTPL và người đại diện theo ủy quyên, trong đó, xuất phat từ định nghĩa về đại diện, có thê hiểu NDDTPL của doanh nghiệp là những người thay mặt cho doanh nghiệp trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch với danh nghĩa và vì lợi ích của doanh nghiệp đó.