CHƯƠNG 1 NHUNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE QUAN TRI CÔNG TY CO PHAN VÀ MO HINH QUAN TRI CONG TY CO PHAN 1. Những van đề lý luận về quan trị công ty cổ phần 1. Khái niệm và đặc diém công ty cỗ phan Sự ra đời, tồn tại và phát triển của CTCP gắn liền với nền kinh tế thị trường. Với tính chất là một hiện tượng kinh tế - xã hội, khái niệm CTCP nói riêng cũng như các loại hình công ty nói chung có thé được hiểu trên nhiều nghĩa khi tiếp cận từ các góc độ khác nhau, thể hiện ở cả thuật ngữ và nội dung pháp lý.
- Trong cuốn Dai từ điển kinh tế thị trường của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, CTCP được định nghĩa như sau: CTCP (gọi là công ty hữu hạn cổ phần) là một loại hình công ty mà toàn bộ vốn chia thành các cô phần có mức băng nhau, cỗ phần phát hành công khai theo pháp luật bằng hình thức cổ phiếu va tự do chuyển nhượng. Trong công ty hữu hạn cô phần, số cô đông rất nhiều, tài sản cá nhân tách riêng khỏi tài sản công ty, trách nhiệm đối với các món nợ của công ty hạn chế ở mức bỏ vốn của từng người [13, tr. Từ điển bách khoa Việt Nam lại định nghĩa: CTCP là những công ty được hình thành trên cơ sở liên hợp tư bản cá nhân băng cách phát hành và bán cổ phan và lợi nhuận của công ty được phân phối giữa các cô đông theo số lượng cô phan [10, tr. Định nghĩa này nhấn mạnh chủ yếu khía cạnh kinh tế, cụ thể là tính chất của việc phân phối lợi nhuận, tính chất hợp vốn của công ty.
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra một định nghĩa khá rõ ràng và cụ thể, theo đó thì CTCP là: Công ty trong đó vén điều lệ được chia thành những phan nhỏ nhất và băng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phan của công ty được gọi là cô đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trước nghĩa vu của công ty đến hết giá trị cé phần mà họ năm giữ. Công ty có quyền phát hành chứng khoán dé công khai huy động vốn [1 1, tr.
Ngoài ra, khái niệm CTCP được Giáo sư tiến sĩ Vojo Belovski đưa ra trên Tap chí Journal of Process Management — New Technologies, International (JPMNT) bang cách tiếp cận các đặc điểm thé hiện ban chất pháp lý của CTCP như sau [27]: + CTCP là một tổ chức pháp nhân có phần tài sản vốn xác định được thê hiện bằng tiền. + Khoản tài sản vốn được chia thành các phần bằng nhau. + Tất cả cổ đông tham gia CTCP với một hay nhiều cô phan, với việc thanh toán cho những cô phần này thì quỹ vốn cơ bản được tạo ra. + Nghĩa vụ của CTCP được đảm bảo với tất cả tài sản của công ty.
Trách nhiệm của những người tham gia vào sự thành lập của công ty chung quy là chi trả dựa trên số cổ phần mà mình sở hữu. Các cô đông không phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ pháp lý của công ty đối với các bên thứ ba. Chỉ công ty mới phải có trách nhiệm pháp lý, với tất cả tài sản của công ty đó. - Không chỉ được nhìn nhận trên phương diện thuật ngữ hay quan điểm của các nhà nghiên cứu, khái niệm CTCP còn được ghi nhận ở hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
Theo Luật Thương mại Đức, có hai nhóm công ty là công ty đối nhân và công ty đối vốn. Trong đó công ty đối nhân gồm hai loại hình cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản; công ty đối vốn gồm hai loại hình là CTTNHH và CTCP. Theo đó, CTCP là mô hình công ty có tư cách pháp nhân sau khi tiến hành đăng ký kinh doanh; vốn điều lệ khi thành lập CTCP tối thiêu là 50.000 EUR và được chia thành các cổ phần có mệnh giá thấp nhất là 1 EUR; cổ đông của CTCP có thé là cá nhân hoặc tô chức; các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm vé các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị cô phần mà mình sở hữu; cổ phan của công ty được tự do chuyển nhượng và CTCP được phát hành các loại cổ phần khác nhau dé huy động vốn [2, tr. Khoản 1 Điều 1041 Luật Công ty Anh 2006 định nghĩa: CTCP là một công ty có vốn cố định đã góp hoặc vốn trên danh nghĩa của tong số vốn có định được chia thành nhiều phan bang nhau gọi là cỗ phan, cũng số vốn cô định, hoặc nắm giữ và chuyển nhượng như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần băng cách khác; được thành lập trên nguyên tắc các thành viên sở hữu cô phần hoặc chứng khoán đó và không có những người khác.
Đối với pháp luật Nhật Bản, theo khoản 1 Điều 2 Luật Công ty 2014 của Nhật Bản thì có bốn loại hình công ty cơ bản là CTCP, công ty hợp danh, công ty hợp vốn và CTTNHH. Trong đó, công ty hợp danh, công ty hợp vốn và CTTNHH được gọi chung là các công ty thị phần, qua đó có sự phân biệt rõ rệt với CTCP. CTCP là mô hình công ty mà trong đó những cổ đông là những người góp vốn, sẽ tiễn hành việc kinh doanh và phân chia lợi nhuận theo quyền hạn và nghĩa vụ của mình dựa trên cổ phần minh đóng góp [1, tr. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc mô hình CTCP ở một số quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam, cụ thể là LDN 2020 đã đưa ra khái niệm về CTCP theo hướng tiếp cận các dấu hiệu pháp lý cơ bản dé nhận diện loại hình doanh nghiệp này như sau: CTCP là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phan bằng nhau gọi là cổ phần; Cô đông có thé là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cô đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyên nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này [8, Điều 111, Khoản 1].
Dưới góc độ so sánh có thể thấy răng, khái niệm về CTCP trong LDN 2020 đã ké thừa một cách đầy đủ, hoàn thiện so với quy định tại LDN 2014. Như vậy, về bản chất của CTCP, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có cách hiểu khá tương đồng khi quan niệm đây là mô hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn, với đặc điểm quan trọng là sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của công ty và tài sản của các cô đông, trong đó các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty; vốn cơ bản của công ty được chia thành các phần băng nhau gọi là cổ phan. - Từ khái niệm về CTCP quy định tại Điều 111 LDN 2020, có thé rút ra một số đặc điểm cơ bản của CTCP sau đáy: + Về tư cách pháp lý Với tư cách là một chủ thé kinh doanh phổ biến và cũng là loại hình công ty đối vốn điển hình, CTCP là doanh nghiệp, có tên riêng, có trụ sở giao dịch 6n định, có tài sản riêng dé tiến hành hoạt động kinh doanh nhăm mục đích kiếm lời. CTCP có đủ điều kiện đề trở thành một pháp nhân, nên khoản 2 Điều 111 LDN 2020 thừa nhận CTCP có tư cách pháp nhân ké từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động, CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản bằng chính tài sản của minh, với tư cách chủ thé là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo quy định của pháp luật, công ty có thê trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án dân sự. + Về vốn điều lệ Khác với hầu hết các loại hình doanh nghiệp khác, ké cả CTTNHH, điểm đặc trưng về vốn điều lệ của CTCP là loại vốn này được chia thành nhiều phan bằng nhau gọi là cô phần [8, Điều 111, Khoản 1, Điểm a]. Giá trị mỗi cô phan gọi là mệnh giá cô phan và được phan ánh trong cỗ phiếu. Một cô phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cô phần.
Việc góp vốn vào CTCP của nhà đầu tư/cô đông được thực hiện bằng cách nhà đầu tư mua cô phiếu do CTCP phát hành trên thị trường chứng khoán, theo đó mỗi cổ đông có thé mua nhiều cổ phiếu tùy theo khả năng tài chính và mong muốn tham gia quản lý điều hành công ty ở mức độ nào. LDN không hạn chế mỗi thành viên được mua tối đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng các thành viên có thé thỏa thuận trong điều lệ để giới hạn tối đa số cô phần mà mỗi thành viên có thé mua nhằm hạn chế việc một thành viên nào đó có thé nam quyên kiểm soát công ty. + Về cổ đông của công ty Với tính chất là công ty đối vốn nên các thành viên của công ty thường chỉ quan tâm tới vấn đề năng lực tài chính mà không quan tâm nhiều đến vấn đề nhân thân như các loại hình doanh nghiệp khác. Khi tham gia thành lập công ty hoặc kết nạp cô đông mới, thông thường các cổ đông chi quan tâm đối tượng có đủ khả năng và tài chính để tham gia vào công ty và trở thành cô đông của công ty hay không.
LDN 2020 không giới hạn số lượng cô đông tối đa của CTCP mà chỉ quy định số lượng cô đông tối thiêu là 03 (Điểm b khoản 1 Điều 111). Việc quy định số lượng thành viên tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong may trăm năm tôn tại của CTCP. + Về chế độ trách nhiệm Giống với CTTNHH, các cô đông của CTCP chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Còn CTCP thì chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của công ty.