phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài đƣợc chia thành ba chƣơng. - Chƣơng 1: Khái quát chung về CTCP và vốn chủ sở hữu trong CTCP. - Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về vốn chủ sở hữu CTCP. - Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về vốn chủ sở hữu CTCP.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm công ty cổ phần 1. Nguồn gốc hình thành và sự phát triển của công ty cổ phần CTCP là một loại hình công ty phổ biến bậc nhất hiện nay, đƣợc xem là phƣơng thức phát triển hoàn thiện nhất cho đến nay của xã hội loài ngƣời để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển.Ở các nƣớc khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau. Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD) và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)…[17; tr 2].
Về mặt lịch sử hình thành, CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhƣng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP đƣợc hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới đƣợc pháp luật thừa nhận. CTCP xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874). Nó đƣợc thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 ngƣời, và đƣợc cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi.
Ngày 01/6/1874, Công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không đƣợc gia hạn. Công ty đầu tiên này hoạt động hết sức lỏng lẻo: “Ngƣời đầu tƣ góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi” [3; tr 10]. Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các CTCP theo hình thức tƣơng tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lƣợt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức… Ở Mỹ, CTCP phát triển rất mạnh. Lúc đầu là vì phải xây dựng đƣờng xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lƣới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ rộng lớn của Mỹ.
Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đƣờng xe lửa mà thị trƣờng chứng khoán ở NewYork phát triển. Năm 1811, bang NewYork ban bố luật về tính TNHH dành cho các công ty sản xuất. Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hạn kia trở thành phổ biến vì bang nào không dùng đến nó là không thu hút đƣợc vốn[9; tr 25]. Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, CTCP bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm…ở các nƣớc tƣ bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới.
Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bƣớc phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội. CTCP là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung vốn. Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt”[1; tr 199]. Sự ra đời của CTCP đã giúp cho các nhà DN giải quyết đƣợc mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo.
Tóm lại, trải qua quá trình phát triển lâu dài, CTCP đã từ phạm vi ở một nƣớc, một khu vực nhất định đã phát triển thành những công ty đa quốc gia, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng nhƣ nhận định: “CTCP đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia”[2; tr 35]. Ở Việt Nam, các hình thức sơ khai của CTCP xuất hiện từ khá sớm. Luật lệ về công ty lần đầu tiên đƣợc quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chƣơng IX) nói về hội buôn đƣợc chia thành hai loại là hội ngƣời và hội vốn. Trong đó hội vốn đƣợc chia thành hai loại là hội vô danh (bản chất là CTCP) và hội hợp cổ (bản chất là công ty hợp vốn đơn giản).
Nhìn chung, quy định của Pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai[5; tr 17]. Dƣới thời Pháp thuộc, CTCP xuất hiện ở cả ba kỳ và đƣợc quy định trong Bộ luật Thƣơng mại Pháp năm 1807. Đến năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thƣơng mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó có quy định về CTCP (gọi là công ty vô danh) từ Điều 102 đến Điều 142 và từ Điều 159 đến Điều 171. Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thƣơng mại, trong đó CTCP đƣợc gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các hội viên mệnh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần” (Điều 236) và “chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ 7 người trở lên” (Điều 295).
Các vấn đề pháp lý liên quan đến hình thức hội nặc danh nhƣ thành lập, góp vốn, cơ cấu quản lý … đã đƣợc quy định rất chi tiết trong Bộ luật này từ Điều 236 đến Điều 278 cũng nhƣ từ Điều 295 đến Điều 314. Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nƣớc vào năm 1975 và trên phạm vi cả nƣớc từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung và CTCP nói riêng hầu nhƣ không còn tồn tại do không đƣợc pháp luật thừa nhận. Khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không đƣợc hiểu đúng bản chất pháp lý mà chỉ đƣợc hiểu theo hình thức kinh doanh [42]. Luật công ty 1990 đƣợc ban hành ngày 21/12/1990 mới chính thức quy định vềhình thức CTCP cụ thể và sau đó LDN 1999, LDN 2005 và LDN 2014 lần lƣợt đƣợc ban hành.
Trong các văn bản này, CTCP vẫn tiếp tục đƣợc ghi nhận và đƣợc quy định theo hƣớng tiếp cận dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị CTCP. Hiện nay, các CTCP ở Việt Nam hình thành từ ba nguồn chính [12; tr. 223]: (1) đƣợc chuyển đổi từ DN quốc doanh sang CTCP trong chƣơng trình cổ phần hóa kéo dài từ những năm 1992 cho đến nay; (2) đƣợc chuyển đổi và thành lập mới từ khu vực dân doanh trong nƣớc; (3) đƣợc chuyển đổi hoặc thành lập mới từ khu vực DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần Thật khó để đƣa ra một định nghĩa chính xác về CTCP mà có thể làm hài lòng tất cả mọi ngƣời.
Do đó, phƣơng pháp tối ƣu nhất để nắm đƣợc khái niệm về CTCP là đƣa ra các đặc điểm pháp lý của nó. CTCP có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất: CTCP là loại hình công ty đối vốn, thuộc chế độ trách nhiệm hữu hạn. Do là loại hình công ty đối vốn nên yếu tố nhân thân hay sự quen biết của các thành viên trong công ty không đƣợc coi trọng, yếu tố quan trọng đƣợc ngƣời ta quan tâm nhất chính là cổ phần. Cũng chính bởi điều này mà CTCP đƣợc xem là hình thức công ty đối vốn điển hình.
Có những công ty có hàng trăm ngàn đến hàng triệu cổ đông trên toàn thế giới nhƣ Apple, IBM, Microsoft,Coca Cola. và các cổ đông này không hề quen biết tất cả nhau. Ở Việt Nam, một số DN có số lƣợng nhiều cổ đông 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất phải kể đến Tổng Công ty Khí Việt Nam, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam hay Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam. Tính chịu trách nhiệm hữu hạn đƣợc hiểu là nghĩa vụ của cổ đông chỉ phải trả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty giới hạn trong số vốn đã góp vào công ty và về nguyên tắc không phải đem tài sản cá nhân ra trả nợ cho công ty.
Các chủ nợ chỉ có quyền đối với các tài sản của công ty, chứ không có quyền đối với tài sản riêng của các cổ đông. Thứ hai: Các thành viên hay những ngƣời quản trị công ty đều không có tƣ cách thƣơng nhân. Bản thân công ty mới là thƣơng nhân. Những ngƣời có thẩm quyền giao dịch với bên ngoài chỉ là những ngƣời đại diện cho Công ty.
Về lý thuyết, tƣ cách thƣơng nhân chỉ đƣợc trao cho những thành viên chịu trách nhiệm vô hạn trong một công ty. Nhƣng đối với CTCP, các thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn. Chỉ có công ty là trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của mình. Thứ ba:CTCP có cơ cấu tổ chức khoa học, hợp lý với nhiều cơ quan với chức năng, nhiệm vụ riêng.
Các cơ quan này đƣợc phân tách riêng biệt và có cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau một cách chặt chẽ. Đặc điểm này của CTCP nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi của các cổ đông, thúc đẩy công ty phát triển có hiệu quả. Cổ đông không có quyền trực tiếp kiểm soát hoạt động hàng ngày của công ty, mà chỉ có quyền bổ nhiệm những ngƣời sẽ đại diện họ vào HĐQT. Trong công ty, quyền quyết định về tƣơng lai, định hƣớng phát triển của công ty đƣợc giao cho HĐQT, trong khi đó việc điều hành công việc hàng ngày của công ty đƣợc giao cho những giám đốc hoặc tổng giám đốc.
Thứ tư:CTCP đƣợc phép phát hành chứng khoán để huy động vốn. Vốn của CTCP đƣợc chia thành các phần nhỏ bằng nhau và đƣợc dễ dàng chuyển nhƣợng tự do.