Tổng quan nghiên cứu
Thực trạng phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam ghi nhận sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các loại hình tổ chức kinh doanh. Báo cáo thống kê 9 tháng đầu năm 2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho thấy trong tổng số 22.617 doanh nghiệp thành lập mới, không có bất kỳ một công ty hợp danh nào được đăng ký, chiếm tỷ lệ 0%. Tương tự, giai đoạn năm 2017 cả nước chỉ ghi nhận 22 công ty hợp danh trên tổng số 153.307 doanh nghiệp thành lập mới, chỉ chiếm vỏn vẹn 0,014% về số lượng, thu hút 80 tỷ đồng vốn đăng ký và 150 lao động. Trong khi đó, tại Australia – nền kinh tế xếp thứ 13 toàn cầu với quy mô GDP năm 2023 đạt 1.634 tỷ USD, công ty hợp danh là mô hình cực kỳ thịnh hành với 265.774 doanh nghiệp đang hoạt động trong năm tài chính 2021-2022, tạo ra tổng doanh thu 161.320 triệu AUD.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những rào cản mang tính cấu trúc trong hệ thống pháp luật Việt Nam khiến mô hình công ty hợp danh bị thị trường quay lưng, dù bản chất của loại hình này rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như lĩnh vực dịch vụ chuyên nghiệp. Mục tiêu cụ thể của đề án là phân tích toàn diện khung pháp lý của Luật Doanh nghiệp 2020 và các đạo luật chuyên ngành, đặt trong sự đối chiếu sâu sắc với pháp luật Australia; từ đó nhận diện những bất cập về tư cách pháp nhân, quyền năng thành viên, năng lực huy động vốn và cơ chế quản trị.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định thực định từ năm 2020 đến tháng 10 năm 2024 tại Việt Nam và bang New South Wales, Lãnh thổ Thủ đô Australia (ACT), kết hợp số liệu kinh tế giai đoạn 2017–2024. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học vững chắc nhằm hoàn thiện khung pháp lý doanh nghiệp, thúc đẩy tỷ trọng đăng ký loại hình công ty hợp danh tăng trưởng từ mức dưới 0,02% hiện nay lên mức đóng góp thực chất cho nền kinh tế thị trường định hướng hội nhập quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của lý thuyết công ty đối nhân (Intuitae Personae) và lý thuyết quản trị đại diện (Agency Theory). Bản chất của công ty đối nhân đặt trọng tâm vào nhân thân, uy tín và sự tin cậy tuyệt đối giữa các thành viên, nơi chế độ trách nhiệm vô hạn và liên đới đóng vai trò là cam kết bảo đảm cao nhất cho các chủ nợ. Đồng thời, lý thuyết quản trị công ty hiện đại được vận dụng nhằm xem xét mối quan hệ ủy thác quyền lực giữa các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn trong việc điều hành tổ chức.
Hệ thống khái niệm pháp lý cốt lõi được sử dụng bao gồm:
- Công ty hợp danh: Doanh nghiệp đối nhân có ít nhất hai thành viên hợp danh cùng kinh doanh dưới một tên chung và chịu trách nhiệm vô hạn.
- Thành viên hợp danh: Cá nhân nắm quyền điều hành và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân đối với mọi nghĩa vụ của công ty.
- Thành viên góp vốn: Thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã cam kết góp.
- Tư cách pháp nhân: Tư cách độc lập của một tổ chức có tài sản riêng biệt và tự chịu trách nhiệm tài sản theo chuẩn mực Bộ luật Dân sự 2015.
- Hợp danh hữu hạn (Limited Partnership): Mô hình kết hợp giữa thành viên chịu trách nhiệm vô hạn và thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn theo chuẩn mực thông luật.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp quy mô lớn, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam gồm Luật Doanh nghiệp 2020 (với 11 điều luật trực tiếp điều chỉnh công ty hợp danh), Bộ luật Dân sự 2015 (689 điều), Luật Luật sư 2012, Luật Công chứng 2014, Luật Đấu giá tài sản 2024; cùng các đạo luật của Australia gồm Đạo luật Công ty 2001 (Corporations Act 2001 - Cth) và Đạo luật Hợp danh 1963 (The Partnership Act 1963 - ACT). Cỡ mẫu dữ liệu thống kê bao quát 100% số liệu doanh nghiệp đăng ký tại Thành phố Hồ Chí Minh (các mốc tháng 4/2022, tháng 4/2023, tháng 6/2024 với tổng cộng hơn 11.500 doanh nghiệp), Thành phố Hà Nội (22.617 doanh nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2024) và toàn bộ 265.774 công ty hợp danh tại cơ sở dữ liệu của Sở Thuế vụ Australia (ATO) qua 3 năm tài chính 2019-2022. Phương pháp chọn mẫu toàn diện và mục đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện và phản ánh sát thực tế môi trường kinh doanh hai quốc gia.
Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm: phương pháp phân tích văn bản pháp luật, phương pháp luật học so sánh (so sánh chức năng và quy phạm), phương pháp lịch sử và phân tích thống kê mô tả. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm mổ xẻ đa chiều những xung đột nội tại của quy phạm pháp luật Việt Nam khi đối chiếu với hệ thống Common Law phát triển hàng trăm năm của Australia, bảo đảm tính logic từ khâu lịch sử hình thành đến khả năng ứng dụng thực tiễn giai đoạn 2024-2030.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, thị phần của công ty hợp danh tại thị trường Việt Nam ở mức gần như triệt tiêu. Số liệu đăng ký mới năm 2017 cho thấy công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chiếm 48% (73.118 doanh nghiệp), công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chiếm 19% (29.389 doanh nghiệp), công ty cổ phần chiếm 14% (21.197 doanh nghiệp), trong khi công ty hợp danh chỉ chiếm 0,014% với 22 doanh nghiệp. Đến tháng 6 năm 2024 tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong 3.642 doanh nghiệp thành lập mới chỉ có đúng 1 công ty hợp danh (tỷ lệ 0,027%). Thậm chí trong 9 tháng đầu năm 2024 tại Hà Nội, con số này là 0 công ty hợp danh trên tổng số 22.617 doanh nghiệp.
Thứ hai, thị trường Australia ghi nhận sự phát triển vượt bậc của mô hình hợp danh. Số liệu của Sở Thuế vụ Australia chỉ ra rằng dù số lượng có sự tinh gọn từ 281.416 doanh nghiệp (năm tài chính 2019-2020) xuống 265.774 doanh nghiệp (năm tài chính 2021-2022), tổng doanh thu lại tăng trưởng liên tục từ 145.938 triệu AUD lên 161.320 triệu AUD (tăng 10,54%). Phân khúc quy mô siêu nhỏ (Micro) chiếm tỷ trọng áp đảo với 196.512 doanh nghiệp (chiếm 73,94% tổng số công ty hợp danh năm 2021-2022) và tạo ra 47.469 triệu AUD doanh thu, chứng minh công ty hợp danh là lựa chọn hàng đầu cho nhà đầu tư vốn nhỏ tại Australia.
Thứ ba, sự xung đột pháp lý về tư cách pháp nhân và gánh nặng thuế kép. Luật Doanh nghiệp 2020 trao tư cách pháp nhân cho công ty hợp danh nhưng lại không giải quyết được mâu thuẫn với Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, do tài sản của công ty không độc lập hoàn toàn với tài sản thành viên hợp danh. Hệ quả là thành viên hợp danh vừa phải chịu trách nhiệm vô hạn, vừa phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp ở cấp độ công ty và thuế thu nhập cá nhân trên lợi tức được chia mà không được hưởng ưu đãi thuế như chủ doanh nghiệp tư nhân.
Thứ tư, sự bó buộc về cơ cấu quản trị và hình thức huy động vốn. Luật Doanh nghiệp 2020 không cho phép pháp nhân làm thành viên hợp danh, cấm công ty hợp danh phát hành chứng khoán nợ (trái phiếu), tước bỏ quyền tham gia quản lý của thành viên góp vốn và bắt buộc Giám đốc/Tổng Giám đốc phải là thành viên hợp danh. Hơn nữa, luật bắt buộc giải thể công ty nếu không đủ 2 thành viên hợp danh trong 6 tháng liên tục mà không có cơ chế cho phép chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp khác.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi khiến công ty hợp danh tại Việt Nam kém hấp dẫn bắt nguồn từ tư duy lập pháp mang tính gom cụm, đơn nhất. Pháp luật Australia xây dựng 3 nhánh cấu trúc rõ rệt: Hợp danh thông thường (General Partnership), Hợp danh trách nhiệm hữu hạn tương đối (Incorporated Limited Partnership) và Hợp danh trách nhiệm hữu hạn tuyệt đối (Limited Liability Partnership - LLP). Trong khi đó, Việt Nam lại dùng một khung pháp lý duy nhất gồm 11 điều trong Luật Doanh nghiệp 2020 để điều chỉnh cả mô hình đối nhân thuần túy lẫn mô hình có yếu tố góp vốn.
Khi dữ liệu được trực quan hóa qua các biểu đồ so sánh cơ cấu doanh nghiệp thành lập mới tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, sự áp đảo tuyệt đối của công ty trách nhiệm hữu hạn (luôn dao động từ 74% đến 80%) đã phản ánh tâm lý e ngại rủi ro tài sản vô hạn của nhà đầu tư. Bảng phân tầng doanh thu của Australia cũng minh chứng rằng khi pháp luật cho phép thành viên ẩn danh, đa dạng hóa tài sản góp vốn vô hình (tri thức, công sức) và trao quyền tự định đoạt qua Điều lệ, mô hình hợp danh sẽ trở thành động lực kinh tế cực kỳ mạnh mẽ. So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ dừng ở phân tích lý luận, kết quả của đề án khẳng định việc tái cấu trúc pháp luật về công ty hợp danh là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy các ngành dịch vụ chuyên nghiệp như kiểm toán, thẩm định giá, luật và công chứng.
Đề xuất và khuyến nghị
- Đa dạng hóa mô hình hợp danh và thể chế hóa mô hình công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP): Quốc hội và Ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp cần tiến hành bổ sung 2 nhánh mô hình độc lập gồm Hợp danh thông thường và Hợp danh trách nhiệm hữu hạn vào dự thảo sửa đổi Luật Doanh nghiệp trước quý IV/2026. Mục tiêu hướng tới nâng tỷ trọng đăng ký loại hình hợp danh lên mức 1,5% - 3% trong tổng số doanh nghiệp thành lập mới.
- Cho phép pháp nhân trở thành thành viên hợp danh và mở rộng đối tượng góp vốn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định 47/2021/NĐ-CP trong giai đoạn 2025-2026, chính thức công nhận quyền gia nhập thành viên hợp danh của các tổ chức kinh tế và pháp nhân, bảo đảm 100% quyền bình đẳng giữa thể nhân và pháp nhân theo chuẩn mực kinh tế quốc tế.
- Trao quyền tự chủ quản trị và cho phép thuê Tổng Giám đốc/Giám đốc điều hành: Sửa đổi quy định tại Luật Doanh nghiệp và Điều 23 Luật Đấu giá tài sản 2024 trước năm 2026, cho phép Hội đồng thành viên có toàn quyền thuê người đại diện quản lý, điều hành chuyên nghiệp không bắt buộc phải là thành viên hợp danh, nhằm tách biệt năng lực chuyên môn nghề nghiệp với năng lực quản trị doanh nghiệp.
- Khơi thông nguồn lực tài chính và loại bỏ cơ chế thuế hai lần: Bộ Tài chính cùng Tổng cục Thuế nghiên cứu cơ chế chuyển nhượng vốn linh hoạt và cấp quyền phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cho công ty hợp danh trước năm 2027; đồng thời bổ sung chính sách khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với lợi tức của thành viên hợp danh, giải quyết triệt để 100% tình trạng đánh thuế trùng lặp tài sản.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan xây dựng chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội có thể sử dụng các luận cứ so sánh và số liệu thực chứng của đề án làm tài liệu nền tảng phục vụ công tác sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Công chứng và Luật Đầu tư.
- Tổ chức hành nghề dịch vụ chuyên nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Các văn phòng luật sư, tổ chức hành nghề công chứng, công ty kiểm toán và doanh nghiệp đấu giá tài sản có thể áp dụng các giải pháp quản trị, phân định quyền biểu quyết giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn để tái cấu trúc nội bộ an toàn.
- Nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong nước, quốc tế: Các nhà sáng lập startup thuộc lĩnh vực đổi mới sáng tạo, dịch vụ pháp lý và tư vấn quản trị có nhu cầu mở rộng kinh doanh tại Việt Nam hoặc Australia nắm bắt được khung pháp lý, ưu nhược điểm và rủi ro tài sản trước khi góp vốn.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và người học ngành Luật Kinh tế: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các trường đại học khối ngành luật, kinh tế sử dụng tài liệu làm nguồn tham khảo chuyên sâu về luật học so sánh giữa hệ thống pháp luật Việt Nam và Australia.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao tỷ lệ đăng ký công ty hợp danh tại Việt Nam chỉ đạt dưới 0,02%?
Nguyên nhân chủ yếu do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn liên đới bằng toàn bộ tài sản cá nhân khiến nhà đầu tư đối mặt rủi ro tài chính cực lớn. Đồng thời, công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán để huy động vốn và không cho phép pháp nhân tham gia thành lập, dẫn đến việc nhà đầu tư lựa chọn công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần an toàn hơn.
Pháp luật Australia quy định những mô hình hợp danh nào ưu việt hơn Việt Nam?
Australia phân định rõ 3 mô hình: General Partnership (hợp danh thông thường), Incorporated Limited Partnership (hợp danh trách nhiệm hữu hạn tương đối) và Limited Liability Partnership (hợp danh trách nhiệm hữu hạn tuyệt đối). Mô hình LLP bảo vệ tài sản cá nhân của các thành viên khỏi sai phạm của đối tác khác, rất thu hút các công ty dịch vụ tài chính, kế toán với 265.774 doanh nghiệp vận hành năm 2021-2022.
Quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp 2020 gây ra vướng mắc gì?
Quy định này mâu thuẫn với Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 do công ty hợp danh không có sự tách bạch tài sản độc lập với thành viên hợp danh. Hậu quả thực tế là phát sinh bất cập về thuế: thu nhập của công ty đã đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng phần lợi tức chi trả cho thành viên hợp danh vẫn bị xem là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Công ty hợp danh tại Việt Nam có thể huy động vốn bằng cách nào?
Theo Luật Doanh nghiệp 2020, công ty hợp danh hoàn toàn không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán hay trái phiếu nào. Kênh huy động vốn duy nhất là tăng vốn góp của các thành viên hiện hữu, tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới hoặc kêu gọi thêm thành viên góp vốn, khiến quy mô vốn bị bó hẹp trong nhóm quan hệ quen biết.
Nếu chỉ còn lại 1 thành viên hợp danh thì doanh nghiệp có bị giải thể bắt buộc không?
Theo quy định hiện hành, nếu công ty hợp danh không còn đủ số lượng tối thiểu 2 thành viên hợp danh liên tục trong thời hạn 6 tháng thì bắt buộc phải tiến hành thủ tục giải thể. Pháp luật Việt Nam chưa thiết lập cơ chế cho phép công ty hợp danh chuyển đổi loại hình sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp đang kinh doanh ổn định.
Kết luận
- Công ty hợp danh tại Việt Nam đang bị thu hẹp nghiêm trọng với tỷ lệ đăng ký mới tiệm cận mức 0% tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Pháp luật Australia khẳng định tính ưu việt của mô hình hợp danh đa dạng khi vận hành hiệu quả 265.774 công ty, đạt doanh thu hơn 161 tỷ AUD.
- Bất cập then chốt tại Việt Nam nằm ở sự xung đột tư cách pháp nhân, cấm đoán pháp nhân gia nhập, hạn chế huy động vốn và cơ chế quản trị cứng nhắc.
- Đề án đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện nhằm sửa đổi Luật Doanh nghiệp giai đoạn 2025-2027, định hình mô hình hợp danh trách nhiệm hữu hạn linh hoạt.
- Quý độc giả, các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng nhà đầu tư hãy tham khảo toàn văn luận văn để xây dựng nền tảng pháp lý và chiến lược kinh doanh vững chắc.