Chương 1: Lý luận chung về chế định hội đồng quản trị trong công ty cổ phần. - Chương 2: Thực trạng quy định về hội đồng quản trị trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và một số kiến nghị. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần 1.
Khái niệm công ty cổ phần Năm 1492, Cristoforo Colombo tìm ra châu Mỹ đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại, các đế quốc châu Âu từ đây đã biết đến một châu lục gần như chưa bị khai thác về tài nguyên thiên nhiên như ở châu Âu và châu Á, tạo ra một làn sóng khai thác châu Mỹ của các đế quốc Á-Âu. Việc khai thác châu Mỹ cùng với các vùng đất khác (mà điển hình là Ấn Độ) lúc bấy giờ đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn. Tuy nhiên, với nhiều đoàn thám hiểm đã gặp thất bại khi quay trở về từ châu Âu mà không tìm thấy gì hoặc gặp tai nạn trên đường đi, thì khai thác châu Mỹ cùng các vùng đất mới tỏ ra là một việc rất rủi ro tại thời điểm lúc bấy giờ, do đó các tổ chức tín dụng vẫn rất thận trọng và các nước đế quốc rất khó để tìm ra được một nguồn vốn tín dụng đủ lớn để tiến hành công cuộc khai thác6. Do vậy, các nước đế quốc sẽ gặp phải khó khăn rất lớn nếu không có nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư công chúng.
Tuy nhiên, tại thời điểm này, để đầu tư vào một việc kinh doanh nào đó, thì nhà đầu tư phải gánh chịu trách nhiệm vô hạn, do đó, khi việc kinh doanh thất bại, nhà đầu tư phải trả nợ bằng chính tài sản riêng của mình và không bị giới hạn, ngay cả khi nhà đầu tư buộc phải bán đi nhà cửa, ruộng vườn của mình để có tiền trả nợ. Vì vậy, các nhà đầu tư công chúng ở thời kỳ này thường hạn chế tối đa việc đầu tư của mình do lo sợ hệ quả của trách nhiệm vô hạn, từ đó khiến cho việc tìm kiếm vốn đầu tư của các nước đế quốc châu Âu trở nên rất khó khăn. Thực tế này đã dẫn đến một nhu cầu cấp thiết là cần phải có một loại hình kinh doanh hạn chế được rủi ro từ việc chịu trách nhiệm vô hạn, và thúc đẩy các chủ thể trong nền kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất, đầu tư, kinh doanh. Và một sáng kiến quan trọng thời điểm đó chính là việc sáng tạo ra loại hình công ty với trách nhiệm hữu hạn cho nhà đầu tư, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển7, đó chính là CTCP.
Ở thời kỳ đầu, các CTCP do chính quyền của các đế quốc thành lập nhằm phục vụ cho việc khai thác thuộc địa, mà cụ thể là Ấn Độ và châu Mỹ. Một số CTCP đầu tiên được thành lập tại thời điểm này có thể kể đến là Công ty Anh Đông 6 Yuval Noal Harari (2018), Sapiens: Lược sử loài người, Nhà xuất bản Tri thức, tr. 7 Nguyễn Ngọc Bích, tlđd (1), tr. Những CTCP đầu tiên này được hoàng gia của các đế quốc Anh và Hà Lan ban cho những đặc quyền rất lớn, nó không chỉ đơn thuần là các pháp nhân thương mại hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận, mà còn được ban cho cả các quyền chủ quyền như quyền chiến tranh, quyền tư pháp8.
Ở thời kỳ này, việc các CTCP thuê không chỉ lính tráng, mà cả tướng lĩnh và đô đốc, đại bác và tàu chiến, thậm chí nguyên một đạo quân là rất phổ biến. Các CTCP lúc bấy giờ không chỉ đơn thuần là một loại hình doanh nghiệp, mà đôi khi nó giống như là một “đế chế”9. Về mặt lịch sử hình thành, sự ra đời của CTCP không phải là sản phẩm của các nhà lập pháp mà xuất phát từ thực tiễn10. Đặc điểm trách nhiệm hữu hạn dành cho các cổ đông của CTCP đã tạo ra một ưu thế rất lớn cho nó.
Vì thế nên sau sự thành lập các CTCP đầu tiên bởi hoàng gia các nước đế quốc, giới kinh doanh tư nhân cũng dần tiếp thu ưu điểm của CTCP và lập ra các loại hình công ty với trách nhiệm hữu hạn cho các nhà đầu tư, mặc dù về mặt pháp lý, vẫn chưa có bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào ghi nhận loại hình CTCP. Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các CTCP. Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về CTCP11. Chế định về CTCP được du nhập vào Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta thông qua việc tiếp thu các quy định về CTCP theo hệ thống pháp luật Pháp vào Việt Nam.
CTCP lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam trong Bộ Dân luật thi hành tại các tòa Nam Án Bắc Kỳ năm 1931, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn. Trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh (CTCP) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản)12. Dù rằng đã có sự ghi nhận về CTCP, tuy nhiên các quy định về CTCP ở thời kỳ này còn khá sơ khai, điều này xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ được vận hành dựa trên văn hóa “trọng nông ức thương, theo đó lấy nông nghiệp và thủ công nghiệp làm gốc, tạo ra phần lớn của cải trong nền kinh tế, trong khi đó thương nghiệp không được 8 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Pháp luật về Chủ thể kinh doanh, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.
9 Yuval Noal Harari, tlđd (6), tr. 10 Từ Thảo, “Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần trên thế giới và ở Việt Nam”, https://thongtinphapluatdansu.vn/2010/05/03/4791/, truy cập ngày 17/5/2019. 11 Từ Thảo, tlđd (10). 12 Lê Thị Châu (1997), Quyền sở hữu tài sản của công ty, Nhà xuất bản Lao Động, tr.
7 chú trọng, phần lớn chỉ là làm ăn nhỏ lẻ, tổ chức sơ xài, và có rất ít trường hợp góp vốn làm ăn, nếu có đa phần chỉ là nhất thời13. Thứ hai, tâm lý của người dân Việt Nam lúc bấy giờ cũng không thích hợp cho sự phát triển của các CTCP, khi mà phần đông bộ phận dân cư không quan tâm đến vấn đề đầu tư kinh doanh hoặc không có đủ điều kiện đầu tư kinh doanh (có thể liên quan đến khía cạnh tài chính hoặc các khía cạnh khác). Người dân Việt Nam tại thời điểm này thường “quý nghĩa khinh lợi”, “sống vì mồ mả chứ không vì cả bát cơm”, và cho rằng “giàu nghèo là tại số”14, do đó họ không có nhu cầu phát triển kinh doanh, kèm theo tâm lý gia đình nên cũng không có nhu cầu hợp tác kinh doanh với người ngoài, vì vậy nên các CTCP được người dân Việt Nam thành lập tại thời điểm này đa phần chỉ là các công ty gia đình, “một CTCP ở Việt Nam đôi khi là một “gia đình lớn” được kiểm soát bởi một vài gia đình và những chiến hữu thân tín của họ”15. Thứ ba, đại bộ phận dân cư lúc bấy giờ rơi vào tình trạng mù chữ, trong khi việc thành lập các CTCP đòi hỏi các cá nhân thành lập phải thông qua hàng loạt các thỏa thuận thành lập cũng như là các văn bản mang tính định hướng cho hoạt động của công ty, vì vậy nên với đặc điểm này, họ cũng không đủ điều kiện để tham gia thành lập các CTCP.
Từ những lý do nói trên nên việc phát triển chế định về CTCP là gần như không cần thiết trong giai đoạn này và do đó, mặc dù CTCP đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, nhưng các quy định về CTCP mãi đến sau này mới được hoàn thiện. Sau khi thống nhất đất nước, đến năm 1990 thì Luật Công ty ra đời đã chính thức ghi nhận về chế định CTCP. Giai đoạn này nước ta vừa mới trải qua thời kỳ bao cấp, thương nghiệp tư nhân vừa mới được phục hồi, vì vậy nên CTCP cũng không có điều kiện phát triển cho đến năm 1990, do đó các quy định về CTCP trong Luật Công ty năm 1990 chỉ gói gọn trong vỏn vẹn 14 Điều luật, chủ yếu ghi nhận về các đặc điểm cơ bản nhất của CTCP cũng như phác thảo sơ lược mô hình tổ chức CTCP (HĐQT, BKS). Các quy định về CTCP tại Luật Công ty năm 1990 đã tạo nền tảng cho sự phát triển của CTCP sau này, tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt hạn chế, chẳng hạn như cơ chế cấp giấy phép thành lập còn tốn nhiều thời gian (theo đó, UBND nhận đơn phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập công ty trong thời 13 Phạm Duy Nghĩa (2013), Giáo trình Luật Kinh tế, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.
14 Phạm Duy Nghĩa, tlđd (13), tr. 15 Phạm Duy Nghĩa, tlđd (13), tr. 8 hạn sáu mươi ngày16) khiến cho các nhà đầu tư tư nhân còn ngại thành lập công ty tại thời điểm này. Trải qua nhiều năm phát triển chế định về CTCP thông qua sự ra đời của LDN năm 1999, LDN năm 2004, và đến ngày nay, chế định về CTCP được quy định trong LDN năm 2014 với số lượng lên đến 61 Điều luật (chiếm số lượng nhiều nhất trong tất cả các loại hình doanh nghiệp được quy định trong LDN năm 2014), cho thấy chế định về CTCP đang ngày càng được quan tâm phát triển, hoàn thiện bởi các nhà lập pháp Việt Nam17.
Mặc dù vậy nhưng hiện hay vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng trong luật về CTCP, tuy nhiên, dựa trên những quy định về CTCP theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì có thể nhận thấy rằng CTCP là một dạng doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và các cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình; vốn điều lệ của CTCP không là một khối thống nhất mà được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được tự do chuyển nhượng; và có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản trị trong CTCP. Đặc điểm của công ty cổ phần Từ khái niệm được trình bày ở trên, có thể thấy rằng CTCP có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, CTCP có tư cách pháp nhân.