CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái quát chung về tranh chấp quyền sử dụng đất trong quan hệ thừa kế 1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp đất đai. * Khái niệm về tranh chấp đất đai Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác lập chế độ sở hữu đất đai và có những chủ trương, chính sách đất đai cụ thể phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
Trong thời kỳ trước năm 1959, có 2 hình thức sở hữu về đất đai: sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân1. Giai đoạn 1959 - 1980, tồn tại chủ yếu 3 hình thức sở hữu về đất đai là Nhà nước, tập thể và tư nhân. Từ năm 1980 đến nay, quy định một hình thức sở hữu về đất đai là sở hữu toàn dân2. Sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta bắt đầu được xác lập từ Hiến pháp năm 1980, thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, thời kỳ kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách pháp luật đất đai khác nhau, cho dù đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân, hay chỉ được giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.thì ở nước ta, hiện tượng tranh chấp đất đai vẫn xảy ra phổ biến, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc sử dụng đất nói riêng, gây ra nhiều bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã hội. Vậy tranh chấp đất đai là gì? Để làm rõ câu hỏi trên, trước hết phải tranh chấp là gì. Trong đời sống xã hội, các tranh chấp có nhiều loại và xảy ra trên nhiều lĩnh vực. Tùy theo từng loại tranh chấp mà sẽ có các khái niệm khác nhau về “tranh chấp” như: Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp thông thường được hiểu là việc “Giành nhau một cách 1 Điều 31 Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 2 Điều 19 Hiến pháp năm 1980 8 giằng co cái không thuộc rõ về bên nào” 3.
Còn tác giả Hoàng Phê thì tiếp cận “Tranh chấp” là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên 4. Theo Từ điển giải thích từ ngữ luật học, khái niệm tranh chấp trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, hợp đồng được khái quát với các nội dung sau: Tranh chấp dân sự có thể hiểu là những mâu thuẫn, bất hoà về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Tranh chấp kinh doanh là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trong các hoạt động kinh doanh. Hay tranh chấp hợp đồng được hiểu là những xung đột, bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên về việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng5.
Trong lĩnh vực đất đai, khi các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật đất đai, không phải lúc nào cũng nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề trong quan hệ pháp luật, vì thế sẽ xuất hiện những ý kiến khác nhau, những mâu thuẫn, những bất đồng. Theo đó, hiện tượng này phát sinh manh nha từ những bất đồng, mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác về quyền và nghĩa vụ hay lợi ích trong quá trình quản lý, sử dụng đất Thuật ngữ tranh chấp đất đai đã được sử dụng theo Luật Đất đai năm 19876, Luật Đất đai năm 19937 nhưng chưa được giải thích chính thức, mà chủ yếu là chỉ được hiểu ngầm qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2003 lần đầu tiên, tại Khoản 26, Điều 4 đã định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Khái niệm này đã khiến nhiều người lúng túng, bởi đây là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng và cũng không mấy rõ ràng.
Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất 3 Trung tâm từ điển học, từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 1996, tr.989 4 Hoàng Phê (2018), Từ điển Tiếng Việt, Hà Nội: Nxb Hồng Đức, tr. 5 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học (Luật Đất đai, Luật Lao động, Tư pháp quốc tế), NXB Công an nhân dân, Hà Nội – 1999. 6 Điều 9, Điều 21, Điều 22 Luật Đất đai năm 1987. 7 Điều 38, Điều 40 Luật Đất đai năm 1993.
9 đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của người sử dụng đất do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người sử dụng đất có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được định danh về loại chủ thể: Chỉ là người sử dụng đất hay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ tranh chấp đất đai. Do đó có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa nêu trên như: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định…tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính”8.
Tranh chấp đất đai là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính… Quan điểm này được nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết chấp nhận hơn hết9. Tuy định nghĩa tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2003 gây ra nhiều phức tạp trong cách hiểu và áp dụng pháp luật trên thực tế nhưng Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 lại tiếp tục giữ nguyên cách quy định như trên, chỉ có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Có thể nói, cách định nghĩa này không mang tính khoa học vì dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về chủ thể, đối tương và mục đích giải quyết tranh chấp. Các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra định nghĩa về tranh chấp đất đai như sau: “tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và 8 Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh, 2012, tr. 9 Thông tư liên tịch số 01 ngày 03/01/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất 10 nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”10. Theo quan điểm này thì tranh chấp đất đai là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng, trong đó: các chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp là các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai bao gồm Nhà nước và người sử dụng đất; đối tượng của tranh chấp đất đai là tất cả những xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là Nhà nước và người sử dụng đất. Như vậy, định nghĩa tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai 2013 do có nội hàm khá rộng nên đã gây nhiều cách hiểu không chính xác.
Nhiều quan điểm đã đồng tình với cách hiểu rằng, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất11. Qua nghiên cứu như trên, tác giả thấy rằng, tranh chấp đất đai, tự thân khái niệm đã nói lên nội hàm của khái niệm. Vì vậy nên hiểu tranh chấp đất đai ở nước ta chính là tranh chấp quyền sử dụng đất hay bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, vì làm rõ khái niệm tranh chấp đất đai có thể giúp xác định chính xác đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai, góp phần áp dụng pháp luật một cách chính xác và thống nhất, góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai, tránh được trường hợp quy định của luật này chồng chéo lên quy định của luật kia. Chính vì lẽ đó, có thể hiểu: tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
* Đặc điểm tranh chấp đất đai: Tranh chấp đất đai là hiện tượng xã hội, có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi. Ở các vùng, miền khác nhau thì tranh chấp đất đai có thể có những nét riêng. Theo khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Hay nói cách khác, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của 10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội 11 Đặng Hùng Võ (2015), “Chính sách, pháp luật đất đai với nền kinh tế thị trường ở Việt nam” Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. 11 người sử dụng đất giữa các đương sự trong qua trình quản lý và sử dụng đất đai. Như vậy, tranh chấp đất đai chính là các mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm. Trong thực tế, đôi khi người ta không phân biệt được tranh chấp đất đai và khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.