phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh ngân hàng, giải quyết tranh chấp và pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam. Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam. Phương hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG, GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò về hoạt động bảo lãnh ngân hàng 1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được sử dụng từ lâu trong xã hội loài người, đến nay bảo lãnh không những tồn tại mà còn phát triển rộng rãi trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội và được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Theo pháp luật La Mã: Bảo lãnh được hiểu là hợp đồng, theo đó bên thứ ba với mục đích bảo đảm quyền lợi của bên có quyền đã cam kết thực hiện thay nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình.
Trách nhiệm của bên thứ ba là trách nhiệm bổ sung với trách nhiệm của bên có nghĩa vụ và nó chỉ tồn tại khi nghĩa vụ nó đảm bảo tồn tại trên thực tế. Trong pháp luật Hoa Kỳ: “Bảo lãnh chính là sự thỏa thuận, theo đó người bảo lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ, là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện”. [29] Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.
[13, Điều 361] Như vậy, ta có thể hiểu bảo lãnh là thoả thuận giữa các bên, trong đó bên bảo lãnh cam kết sẽ thực hiện các nghĩa vụ theo thoả thuận đối với bên nhận bảo lãnh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận. Với định nghĩa trên thì ta thấy bảo lãnh có hai đặc điểm cơ bản : Một là, bảo lãnh là sự thoả thuận của các bên trong đó các bên tham gia có thể là: Bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh trong đó bắt buộc phải có bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Hai là, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trước tiên thuộc về bên được bảo lãnh. Trong bảo lãnh đối tượng trực tiếp được đưa ra bảo đảm là sự cam kết.
Chỉ khi nghĩa vụ bị vi phạm thì người thứ ba cam kết mới thực hiện các nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh theo thỏa thuận. Bảo lãnh có nhiều hình thức đa dạng như: Bảo lãnh vay vốn ngân hàng, bảo lãnh của cơ quan, tổ chức đối với các cán bộ, nhân viên của mình, bảo lãnh xã hội khác…. Riêng bảo lãnh ngân hàng chỉ xuất hiện khi tiền tệ ra đời và nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ, khái niệm bảo lãnh ngân hàng chịu tác động bởi những biến đổi về kinh tế xã hội, tập quán và pháp luật của quốc gia trong từng giai đoạn nhất định. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta là kinh tế tập trung bao cấp, pháp luật Việt Nam đã đề cập đến bảo lãnh ngân hàng.
Trong giai đoạn này, biện pháp bảo lãnh được sử dụng như là công cụ để hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước khi có nhu cầu vay vốn nước ngoài. Vấn đề bảo lãnh ngân hàng đã được Nhà nước quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng nhìn chung đều có điểm chung là: Thứ nhất, bảo lãnh của ngân hàng là bảo lãnh của Ngân hàng Nhà nước cấp cho các đơn vị, tổ chức trong việc vay vốn nước ngoài để phát triển sản xuất kinh doanh. Ngân hàng Nhà nước đưa ra bảo lãnh cho các tổ chức vay vốn nước ngoài thực chất là Nhà nước đã thực hiện tài trợ cho doanh nghiệp. Thứ hai, chưa có quy định cụ thể, xác định bản chất pháp lý của bảo lãnh ngân hàng.
Trong giai đoạn này, cũng chưa có quy định về khái niệm bảo lãnh, quan hệ giữa tổ chức được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh. Việc bảo lãnh của ngân hàng nhà nước hoàn toàn thực hiện theo mẫu thư bảo lãnh do bên cho vay đưa ra. Từ những năm 90 đến nay hệ thống văn bản pháp luật về bảo lãnh ngân hàng được 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xây dựng khá chi tiết và từng bước hoàn chỉnh. Bảo lãnh ngân hàng với tư cách là một nghiệp vụ cấp tín dụng của các ngân hàng đã được quy định tại Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng ban hành theo Quyết định số 196/QĐ-NH14 ngày 16/9/1994 của Thống đốc ngân hàng nhà nước.
Tiếp theo và hoàn thiện các văn bản này là Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000, Quyết định số 386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/04/2001 và Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN ngày 11/02/2003. Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng đã được hoàn thiện dần qua các văn bản pháp luật, tại Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng Nhà nước về Quy chế bảo lãnh ngân hàng thì "bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay". Tại Khoản 18, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì "Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận".
Và sau đó là Thông tư 28 /2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 của Ngân hàng Nhà nước (thay thế Quyết định số 26) đã khẳng định: “Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”. Nhìn chung, khái niệm "bảo lãnh ngân hàng" theo định nghĩa tại các văn bản trích dẫn trên đều có những điểm cơ bản: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của một bên thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng giữa hai bên. Cam kết bằng văn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản là văn bản bảo lãnh của bên thứ ba, bao gồm Thư bảo lãnh và Hợp đồng bảo lãnh. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng Xét về bản chất pháp lý, bảo lãnh ngân hàng thực chất là hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ với các đặc điểm đặc thù của hoạt động này là: Thứ nhất, BLNH là mối quan hệ đa phương, với sự tham gia của nhiều chủ thể: Hoạt động BLNH phải có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, đó là bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Do đó, hoạt động bảo lãnh không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh mà còn bao hàm mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Trong quan hệ đa phương này, quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh bao giờ cũng là quan hệ gốc, làm phát sinh nghĩa vụ được bảo lãnh. Trên cơ sở này sẽ xuất hiện thêm hai quan hệ nữa giữa bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh và giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Thứ hai, BLNH mang tính độc lập: Mặc dù BLNH là quan hệ đa phương, các quan hệ có mối liên hệ nhau, tuy nhiên chúng lại độc lập nhau.
Sự độc lập của bảo lãnh được hiểu là sự độc lập của quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh với quan hệ giữa bên được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh, cho dù có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh thì ngân hàng bảo lãnh cũng không thể vì thế mà có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Thứ ba, BLNH là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh đã dùng uy tín của mình để cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, khi đó quyết định bảo lãnh cho bên được BLNH không phải xuất tiền ngay do đó sẽ không ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Đó chính là nguyên nhân khiến BLNH được xếp vào hoạt động ngoại bảng của ngân hàng. Phân loại bảo lãnh ngân hàng Căn cứ vào mục đích bảo lãnh gồm có (i) Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.