Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi xã hội loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Theo nghĩa chung nhất, cho vay được hiểu là việc một người thỏa thuận để cho người khác được sử dụng tài sản (vật cùng loại) của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tin tưởng hay tín nhiệm của mình đối với người đó [26]. Hoạt động cho vay được thực hiện bởi rất nhiều chủ thể trong xã hội, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tới tổ chức tín dụng – chủ thể cho vay “chuyên nghiệp„ cho các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, các dịch vụ ngân hàng cũng được đa dạng hoá nhiều, đem lại những nguồn thu nhất định cho các ngân hàng, tuy nhiên hoạt động cho vay vẫn được coi là hoạt động mang tính chất truyền thống không chỉ của các ngân hàng ở Việt Nam mà còn của ngân hàng ở các nước có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh như Mỹ, Pháp….Hoạt động này là hoạt động cơ bản của TCTD, đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các tổ chức này. Theo pháp luật ngân hàng ở Việt nam, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Trong nghiệp vụ cho vay, tổ chức tín dụng giao một khoản tiền nhất định trong một thời gian nhất định cho bên đi vay để dùng vào mục đích nhất định 10 và bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Điều này có nghĩa là đối với hình thức cho vay thì khoản tiền vay được chuyển giao trực tiếp hoặc nhập vào tài khoản của bên đi vay.
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng thực chất là giao dịch hợp đồng. Chủ thể tham gia quan hệ cho vay là bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên đi vay (khách hàng vay). Hoạt động này tiềm ẩn rủi ro lớn. Theo quan điểm của một số tác giả thì hoạt động cho vay là hoạt động tiêu biểu nhất của hầu hết các ngân hàng, hoạt động này đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, ít nhất cũng là dự tính, phán đoán khả năng này.
Tuy nhiên, không phải bao giờ dự tính này cũng chính xác tuyệt đối và thời gian qua đi thì khả năng phán đoán lại càng trở nên khó khăn hơn. Do vậy, rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro tín dụng [29]. Có thể nói, hoạt động cho vay luôn đi liền với rủi ro, kinh doanh tín dụng là chấp nhận đối đầu với rủi ro.Tính rủi ro này xuất phát từ những đặc thù của đối tượng hoạt động cho vay, đặc thù của nguồn vốn cho vay của bên cho vay - tổ chức tín dụng. Nếu trong các hoạt động kinh doanh khác, tiền tệ chỉ được coi là thước đo giá trị, là phương tiện thanh toán thì trong hoạt động cho vay, tiền tệ trở thành hàng hoá.
Bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn, khả năng thu hồi nợ của TCTD có thể khó thực hiện. Ngoài ra, việc cho vay của tổ chức tín dụng chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Chính vì vậy, do chức năng trung gian này của các tổ chức tín dụng mà các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng (người đi vay) sẽ ảnh hưởng ngay đến tổ chức tín dụng và qua đó ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền.
Và như vậy, so với hoạt động cho vay tài sản thông thường thì trong hoạt động này, người cho vay dùng tài sản của chính 11 mình để cho vay nên khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì chỉ người cho vay phải gánh chịu hậu quả [31]. Chính vì xuất phát từ rủi ro trong hoạt động cho vay mà cần thiết phải nghiên cứu các biện pháp nhằm hạn chế tối đa những tác hại của rủi ro tín dụng, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định. Một trong các biện pháp này là bảo đảm tiền vay bằng bảo lãnh ngân hàng. Khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Trong giao dịch dân sự, khi hợp đồng dân sự được xác lập, vấn đề mà các bên quan tâm đó là việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã được xác lập. Để bảo đảm thực hiện đúng các nghĩa vụ theo thoả thuận trong hợp đồng và để tránh các thiệt hại do sự vi phạm nghĩa vụ gây ra, thông thường các bên tham gia giao dịch thường đặt ra các yêu cầu có sự bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ. Bộ luật dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quĩ; bảo lãnh; tín chấp. Mỗi biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nêu trên đều có nội dung và yêu cầu khác nhau, do vậy các bên tham gia giao dịch dân sự tuỳ theo từng loại hình giao dịch các bên có thể lựa chọn các biện pháp thực hiện nghĩa vụ sao cho phù hợp để cho hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Bảo lãnh là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, khái niệm bảo lãnh dưới góc độ kinh tế, xã hội nó khác với khái niệm bảo lãnh dưới góc độ pháp lý. ở mỗi quốc gia, khái niệm bảo lãnh cũng có những nét riêng, nét đặc thù phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của mỗi quốc gia ấy. 12 Theo từ điển tiếng Việt thì bảo lãnh được hiểu là bảo đảm cho người khác thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện, và bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được [25]. Như vậy dưới góc độ ngôn ngữ theo thực tiễn cuộc sống thì khi mà một người đã cam kết bảo lãnh cho một người khác về công việc được thực hiện thì có nghĩa là người đó sẽ bảo đảm cho công việc mà người kia phải thực hiện thì chắc chắn sẽ được thực hiện và nếu trong trường hợp không thực hiện được như thoả thuận thì người bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm trước người nhận bảo lãnh.
Theo từ điển thuật ngữ pháp lý phổ thông: “Bảo lãnh là một trong những phương thức bảo đảm thực hiện trái vụ. Bảo lãnh là hợp đồng trong đó người bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trước chủ nợ của người khác về việc người này thực hiện toàn bộ hay một phần trái vụ của mình” [30]. Theo từ điển pháp luật của Mỹ quốc thì bảo lãnh được hiểu là thoả thuận trong đó người bảo lãnh đồng ý sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ; bảo lãnh là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được [37]. Theo Bộ luật dân sự Sài Gòn: “Khế ước bảo chứng là những khế ước có mục đích bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ trong trường hợp trái hộ lâm vào tình trạng vô tư lực không trả được nợ” “Người nào nhận bảo lãnh một nghĩa vụ tức là cam kết với trái chủ sẽ thi hành nghĩa vụ ấy, nếu chính trái hộ không thi hành” [24].
Theo quy định tại Điều 361 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền ( sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn 13 mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”. Về phạm vi bảo lãnh, Bộ luật dân sự Việt Nam quy định “Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh. Nghĩa vụ bảo lãnh gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác“ [3].
Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự áp dụng tương đối phổ biến trong cuộc sống hàng ngày như áp dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trong các quan hệ giao dịch như: Mua bán, vay mượn, đại lý, thuê. đặc biệt, bảo lãnh là một biện pháp được áp dụng rất phổ biến trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Tóm lại: Từ các định nghĩa trên về bảo lãnh trong Bộ Luật Dân sự ta thấy nó có các đặc điểm sau: Cam kết của bên thứ ba (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh ); Sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh là điều kiện cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Như vậy bảo lãnh là sự cam kết trách nhiệm của bên thứ ba với bên nhận bảo lãnh khi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.