Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Thành Nam thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 62 38 50 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy và TS. Đinh Dũng Sỹ, bảo vệ năm 2015.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ rõ bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngân hàng mang tính phổ biến và giữ vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy lưu thông hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại trong nước và quốc tế nhờ tạo dựng sự tin tưởng giữa các bên giao kết. Hoạt động này mang lại nguồn thu từ phí dịch vụ cho các ngân hàng thương mại nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro tài chính và uy tín. Tại Việt Nam, kể từ văn bản điều chỉnh đầu tiên là Quyết định số 192/NH-QĐ ngày 17/09/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về bảo lãnh, tái bảo lãnh vay vốn nước ngoài đến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, hệ thống quy định đã từng bước định hình. Dẫu vậy, các quy định thực định vẫn bộc lộ nhiều điểm sơ sài, thiếu nhất quán, thậm chí xung đột với tập quán thương mại quốc tế, dẫn đến tình trạng gia tăng tranh chấp trong thực tế. Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà tác giả xác định là cho đến thời điểm thực hiện đề tài, khoa học pháp lý Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học về pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ hệ thống lý luận về hoạt động bảo lãnh ngân hàng và pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng, phân tích thực trạng các quy định và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, từ đó đề xuất định hướng cùng các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật này. Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án giải quyết 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận về hoạt động bảo lãnh ngân hàng (khái niệm, đặc điểm, loại hình, nội dung, vai trò và rủi ro);
  2. Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung và các yếu tố chi phối của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng;
  3. Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng qua các ưu điểm và bất cập tồn tại;
  4. Phân tích tình hình áp dụng pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng trong thực tiễn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam;
  5. Xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số và cấu trúc theo 3 nhóm phương diện:

  • Nhóm câu hỏi về khía cạnh lý luận:
    1. Bảo lãnh ngân hàng là gì? Bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm đặc trưng thế nào so với bảo lãnh dân sự? Bảo lãnh ngân hàng có những loại hình nào?
    2. Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là gì? Hoạt động bảo lãnh ngân hàng bao gồm những nội dung gì? Hoạt động bảo lãnh ngân hàng có vai trò gì đối với các chủ thể tham gia và đối với nền kinh tế? Các chủ thể tham gia hoạt động bảo lãnh ngân hàng chịu những rủi ro như thế nào?
    3. Pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng được hiểu như thế nào? Pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm gì? Nội dung của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng gồm các quy định nào? Những yếu tố nào chi phối pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng?
  • Nhóm câu hỏi về khía cạnh thực trạng pháp luật: 4. Quá trình phát triển của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam thể hiện qua nội dung các văn bản pháp luật như thế nào? Các văn bản pháp luật nào hiện đang điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam? Nội dung của các quy định hiện hành về hoạt động bảo lãnh ngân hàng? Những bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay là gì?
  • Nhóm câu hỏi về giải pháp hoàn thiện: 5. Những yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện pháp luật? Những giải pháp cụ thể nào để hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam hiện nay?

Luận án triển khai 2 giả thuyết nghiên cứu chính:

  1. Hiện chưa có công trình khoa học pháp lý chuyên sâu nghiên cứu pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam. Các vấn đề lý luận vừa thiếu vừa chưa được hệ thống hóa đầy đủ. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng mới dừng ở góc độ kinh tế học, thiếu khái niệm dưới góc độ pháp lý; chưa phân biệt rõ bản chất giữa "bảo lãnh ngân hàng" và "hoạt động bảo lãnh ngân hàng"; chưa làm rõ đối tượng áp dụng, phương pháp điều chỉnh, đặc điểm và nội dung của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
  2. Các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động bảo lãnh ngân hàng chưa hoàn chỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn và còn mâu thuẫn với thông lệ quốc tế; đồng thời thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu đánh giá thực trạng để đề xuất các giải pháp lập quy toàn diện, hợp lý.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng; bao gồm các quy định pháp luật Việt Nam, pháp luật nước ngoài, quy định quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế về bảo lãnh.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Luận án tiếp cận hoạt động bảo lãnh ngân hàng dưới góc độ là hoạt động kinh doanh cung ứng dịch vụ của tổ chức tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận. Luận án không nghiên cứu hoạt động bảo lãnh do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện (Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) hoặc bảo lãnh của tổ chức tín dụng theo chỉ định chính sách không vì mục tiêu sinh lợi. Nội dung nghiên cứu tập trung vào 5 nhóm quy định: (1) trình tự, thủ tục thực hiện; (2) chủ thể tham gia; (3) hợp đồng cấp bảo lãnh; (4) hợp đồng bảo lãnh; (5) giải quyết tranh chấp phát sinh.
  • Về thời gian: Khảo sát tiến trình pháp luật qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1990 – 1996 (chuyển đổi kinh tế thị trường, khởi đầu với Quyết định số 192/NH-QĐ năm 1992); Giai đoạn 1997 – 2010 (ban hành và thi hành Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 và Luật Các tổ chức tín dụng 1997); Giai đoạn 2010 đến thời điểm nghiên cứu (Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực cùng Thông tư số 28/2012/TT-NHNN).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân định thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế xoay quanh 3 tuyến nội dung chính:

Thứ nhất, về các kết quả nghiên cứu lý luận:

  • Các công trình nước ngoài tiêu biểu gồm: Roland F. Bertrams (1996, 2004) với tác phẩm "Bank Guarantees in International Trade", phân định ranh giới giữa bảo lãnh truyền thống (traditional guarantee) phụ thuộc vào hợp đồng cơ sở và bảo lãnh độc lập (independent guarantee); Roy Goode (1992) với "Guide to the ICC Uniform Rules for Demand Guarantees" phân tích quy tắc URDG 458; Michelle Kelly-Louw (2008) với luận án tiến sĩ "Selective Legal Aspects of Bank Demand Guarantees"; Grace Longwa Kayembe (2008) với "The Fraud Exception in Bank Guarantee" luận giải về thuật ngữ suretyship và standby letter of credit; George Affaki (2003) với "Guarantees"; và tài liệu nghiên cứu "Bank Guarantees" của Credit Suisse (2010). Các tập quán quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) được xem xét gồm URCG No. 325, URDG No. 458, URDG No. 758, ISP 98 và UCP.
  • Các công trình trong nước gồm: Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội (2005) và Đại học Luật Hà Nội (2012); Giáo trình tín dụng ngân hàng của Học viện Ngân hàng (2001, 2011); sách chuyên khảo "Bảo lãnh ngân hàng và tín dụng dự phòng" của Lê Nguyên (1996); các bài viết của Võ Đình Toàn (2002) về quan hệ bảo lãnh ngân hàng; bài viết của Bùi Đức Giang (2012) về chế định bảo lãnh theo luật so sánh; công trình nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia của Lê Thị Thu Thủy (2006) về các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng; các nghiên cứu về rủi ro và quản trị ngân hàng của Trương Quốc Cường, Đào Minh Phúc, Nguyễn Đức Thắng (2010), Lê Văn Dũng (2007), Phạm Đỗ Nhật Vinh (2013), Nhóm nghiên cứu Vietcombank (2013); các công trình của Bộ Tư pháp (2002), Phan Hồng Quang (2007), Nguyễn Phước Thanh (2009), Nguyễn Đình Tự (2007) và các bài viết của chính tác giả Nguyễn Thành Nam (2003, 2013).

Thứ hai, về các kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật: Văn bản điểm lại luận văn thạc sĩ luật học của Vũ Thị Khánh Phượng (2011) về bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank); luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Thơm (2007) về phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Vietcombank TP. Hồ Chí Minh; cùng các phân tích trong các giáo trình đào tạo chuyên ngành luật và ngân hàng. Tác giả nhận định phần lớn các tài liệu này mới dừng lại ở mức liệt kê văn bản hoặc mô tả quy trình thực tế theo nghiệp vụ kinh tế, chưa phân tích thấu đáo xung đột pháp lý giữa pháp luật dân sự chung và luật ngân hàng chuyên ngành.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là:

  • Thiếu một khái niệm chuẩn xác về bảo lãnh ngân hàng dưới giác độ pháp lý hợp đồng, phản ánh đúng tính độc lập và tính không thể đơn phương hủy ngang;
  • Chưa có công trình nào xác lập khái niệm và hệ thống hóa lý luận về "hoạt động bảo lãnh ngân hàng", dẫn đến sự đồng nhất sai lệch giữa hành vi bảo lãnh và toàn bộ hoạt động cung ứng dịch vụ cấp tín dụng bảo lãnh của tổ chức tín dụng;
  • Chưa có nghiên cứu toàn diện làm rõ cấu trúc 5 nhóm nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng;
  • Các giải pháp hoàn thiện trước đây chủ yếu mang tính định hướng nghiệp vụ ngân hàng hoặc sao chép thông lệ quốc tế một cách cơ học mà chưa đặt trong mối tương quan với tiêu chí kỹ thuật lập pháp và thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết khoa học pháp lý nền tảng:

  • Học thuyết Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, đóng vai trò nền tảng phương pháp luận xem xét pháp luật như một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng phản ánh quan hệ kinh tế;
  • Lý thuyết về quan hệ pháp luật, dùng để phân tích quyền, nghĩa vụ và tư cách pháp lý của các bên tham gia;
  • Lý thuyết về hợp đồng, làm cơ sở phân tích sự thỏa thuận, tính hiệu lực, ràng buộc và chế tài trong giao dịch cấp bảo lãnh và cam kết bảo lãnh;
  • Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh, làm căn cứ định vị quyền chủ động thiết lập thỏa thuận dịch vụ của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường;
  • Lý thuyết về hoạt động bảo lãnh ngân hàng và tín dụng ngân hàng, xác định bản chất "tín dụng bằng chữ ký".

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để phân rã các quy định pháp luật thực định, xâu chuỗi các quan điểm khoa học trong và ngoài nước nhằm xây dựng các khái niệm, luận điểm mới;
  • Phương pháp logic: Vận dụng các quy luật logic học để phân loại hợp lý các hình thức bảo lãnh, xác lập tính độc lập giữa quan hệ cấp bảo lãnh và quan hệ bảo lãnh;
  • Phương pháp lịch sử: Dùng để tái hiện quá trình vận động của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam qua 3 giai đoạn (1990 – 1996, 1997 – 2010, 2010 – 2015);
  • Phương pháp so sánh luật học: Được sử dụng phổ biến xuyên suốt luận án, bao gồm việc so sánh quy định pháp luật Việt Nam với các tập quán quốc tế của ICC (URDG 458, URDG 758, ISP 98, URCG 325) và quy định pháp luật nước ngoài (như Điều 2288 đến Điều 2322 Bộ luật Dân sự Pháp 2004, National Bank Act và Interprelatieve Ruling 1977 của Hoa Kỳ, Luật Ngân hàng Cộng hòa Séc 1992 sửa đổi 2006, Chỉ thị 2006/48/EC của Liên minh Châu Âu); đồng thời so sánh quy định nội bộ giữa các ngân hàng thương mại trong nước.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam (Bộ luật Dân sự 2005, Luật Các tổ chức tín dụng 1997 và 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước, các nghị định, quyết định, thông tư chuyên ngành); các quy tắc và thông lệ thương mại quốc tế của ICC; các ấn phẩm giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trong nước và quốc tế; số liệu và tài liệu thực tiễn hoạt động cấp bảo lãnh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam (như Agribank, Vietcombank, SHB, Techcombank).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương này dành cho việc tổng thuật hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong nước và ngoài nước. Tác giả phân loại tình hình nghiên cứu theo ba nhánh: lý luận về bảo lãnh ngân hàng, thực trạng pháp luật thực định, và các đề xuất giải pháp hoàn thiện. Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của các công trình đi trước, chương xác định rõ khoảng trống khoa học, xác lập 5 câu hỏi nghiên cứu, 2 nhóm giả thuyết khoa học, làm rõ khung lý thuyết và hệ thống phương pháp nghiên cứu (duy vật biện chứng, lịch sử, logic, phân tích - tổng hợp và so sánh luật học) phục vụ cho việc triển khai toàn bộ đề tài.

Chương 2. Những vấn đề lý luận về hoạt động bảo lãnh ngân hàng và pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng

Nội dung chương 2 tập trung phân tích nguồn gốc lịch sử, bản chất pháp lý và hệ thống lý luận của bảo lãnh ngân hàng:

  • Về nguồn gốc: Lịch sử ghi nhận bảo lãnh cá nhân xuất hiện từ năm 2750 TCN tại Hy Lạp cổ đại, Bộ luật Hammurabi năm 1790 TCN, và các bộ luật cổ Babylon, La Mã, Do Thái khoảng năm 670 TCN. Bảo lãnh do ngân hàng thực hiện xuất hiện tại thị trường nội địa Hoa Kỳ từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX dưới hình thức thư tín dụng dự phòng (Standby Letter of Credit) nhằm vượt qua rào cản của Luật Ngân hàng nội địa Hoa Kỳ (National Bank Act) vốn ngăn cấm ngân hàng phát hành bảo lãnh trả thay nợ, sau đó được chính thức thừa nhận qua Luật diễn giải (Interprelatieve Ruling) năm 1977.
  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả đưa ra định nghĩa: Bảo lãnh ngân hàng là một hợp đồng mang tính độc lập và không thể đơn phương hủy ngang, được giao kết giữa người bảo lãnh là các ngân hàng, tổ chức tín dụng với người nhận bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh đối với người nhận bảo lãnh, theo đó người bảo lãnh cam kết thanh toán một khoản tiền xác định theo thỏa thuận khi người nhận bảo lãnh xuất trình các chứng từ phù hợp với điều khoản và trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh. Luận án chỉ ra 5 đặc điểm bản chất:
    1. Bảo lãnh ngân hàng là một hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
    2. Chủ thể bảo lãnh là ngân hàng, tổ chức tín dụng có tư cách pháp lý chuyên nghiệp;
    3. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập với hợp đồng cơ sở và hợp đồng cấp bảo lãnh;
    4. Bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch dựa trên chứng từ (chủ yếu gồm cam kết bảo lãnh, yêu cầu trả tiền và tuyên bố vi phạm);
    5. Bảo lãnh ngân hàng là giao dịch không thể đơn phương hủy ngang sau khi đã phát hành hợp lệ.
  • Phân loại bảo lãnh ngân hàng: Luận án hệ thống hóa các loại hình bảo lãnh theo các tiêu chí cụ thể:
Tiêu chí phân loại Loại hình bảo lãnh Đặc điểm và tỷ lệ giá trị theo văn bản
Theo mục đích bảo lãnh Bảo lãnh thực hiện hợp đồng Bảo đảm việc thực hiện đúng hợp đồng cơ sở; giá trị thường từ 10% đến 15% giá trị hợp đồng cơ sở.
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước Bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước/tiền đặt cọc; giá trị tương đương số tiền ứng trước (có thể gồm lãi, phạt).
Bảo lãnh thanh toán Bảo đảm thanh toán trong hợp đồng tín dụng hoặc mua bán trả chậm; giá trị tương đương khoản nợ gốc và lãi phát sinh.
Bảo lãnh dự thầu Bảo đảm bồi thường khi nhà thầu vi phạm điều kiện đấu thầu; giá trị thường từ 1% đến 5% giá trị gói thầu.
Bảo lãnh chất lượng sản phẩm Bảo đảm chất lượng máy móc, thiết bị trong suốt thời hạn bảo hành.
Các loại bảo lãnh khác Bảo lãnh nghĩa vụ nộp thuế, bảo lãnh tại ngoại, bảo lãnh phi thương mại.
Theo phương thức phát hành Bảo lãnh trực tiếp Gồm 3 chủ thể: Bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh. Ngân hàng trực tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh.
Bảo lãnh gián tiếp Gồm 4 chủ thể: Bên bảo lãnh, ngân hàng chỉ thị (Instructing Bank), bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh. Vận hành thông qua bảo lãnh đối ứng (Counter Guarantee).
Theo điều kiện thanh toán Bảo lãnh trả tiền ngay Người thụ hưởng chỉ cần xuất trình văn bản yêu cầu thanh toán (hoặc kèm bản tuyên bố vi phạm) do mình đơn phương lập, không cần xác nhận từ bên thứ ba.
Bảo lãnh kèm chứng từ Yêu cầu phải xuất trình chứng từ xác nhận vi phạm do bên thứ ba độc lập ban hành (chuyên môn, bản án, quyết định trọng tài).
  • Bản chất và nội dung hoạt động bảo lãnh ngân hàng: Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là hoạt động dịch vụ nhằm cấp tín dụng ("tín dụng bằng chữ ký") vì mục tiêu lợi nhuận thông qua thu phí. Hoạt động này làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hai quan hệ hợp đồng: (1) Quan hệ hợp đồng cấp bảo lãnh giữa ngân hàng và khách hàng; (2) Quan hệ hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng và bên thụ hưởng. Hai quan hệ này độc lập về hiệu lực nhưng chi phối lẫn nhau.
  • Rủi ro và pháp luật: Luận án nhận diện rủi ro đối với bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh; đồng thời chỉ rõ cấu trúc pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng gồm 5 nhóm nội dung và 6 nhóm yếu tố chi phối (hội nhập kinh tế quốc tế, tập quán quốc tế, chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự tương tác của hệ thống pháp luật, năng lực thực thi của chủ thể, yêu cầu quản trị rủi ro).

Chương 3. Thực trạng pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng văn bản pháp luật và thực tiễn áp dụng qua ba giai đoạn lịch sử (1990 – 1996, 1996 – 2010, 2010 – 2015), tập trung vào 5 nhóm nội dung chính:

  • Quy định về trình tự, thủ tục: Đánh giá quy trình tiếp nhận hồ sơ, thẩm định điều kiện cấp bảo lãnh, phát hành và kiểm tra chứng từ yêu cầu thanh toán theo quy định nội bộ và Thông tư số 28/2012/TT-NHNN. Văn bản chỉ ra sự thiếu hụt quy chuẩn rõ ràng về thời hạn kiểm tra chứng từ đòi tiền so với chuẩn mực quốc tế (như quy định thời hạn tối đa 5 ngày làm việc trong URDG 758).
  • Quy định về chủ thể: Phân tích quyền, nghĩa vụ và điều kiện pháp lý của các bên. Luận án chỉ ra sự bất cập khi văn bản pháp luật chưa phân định tách bạch giữa tư cách "bên đề nghị bảo lãnh" và "bên được bảo lãnh" trong các trường hợp cấp bảo lãnh cho bên thứ ba, gây vướng mắc cho ngân hàng trong việc thiết lập hợp đồng và xử lý tài sản bảo đảm.
  • Quy định về hợp đồng cấp bảo lãnh: Đánh giá tính chất pháp lý là hợp đồng cấp tín dụng; các điều khoản về số tiền, thời hạn, phí bảo lãnh, nghĩa vụ nhận nợ bắt buộc khi ngân hàng thực hiện trả thay. Bất cập nằm ở chỗ thiếu các quy định khung mang tính nguyên tắc để bảo vệ tổ chức tín dụng trước hành vi vi phạm hợp đồng cơ sở của khách hàng.
  • Quy định về hợp đồng bảo lãnh: Phân tích cam kết bảo lãnh dưới góc độ là hợp đồng độc lập. Điểm xung đột nghiêm trọng nhất là quy định tại Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005 vẫn duy trì bản chất bảo lãnh phụ thuộc (phụ thuộc vào hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ tại hợp đồng cơ sở), mâu thuẫn trực tiếp với nguyên tắc bảo lãnh độc lập thanh toán theo chứng từ của Luật Các tổ chức tín dụng và thông lệ URDG/ISP.
  • Quy định về giải quyết tranh chấp: Phân tích thực tiễn tranh chấp tại Tòa án và Trọng tài thương mại; làm rõ các vướng mắc về thẩm quyền tài phán, xung đột pháp luật khi áp dụng tập quán quốc tế (URDG, ISP 98) trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài, và thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đình chỉ thanh toán bảo lãnh khi có nghi ngờ gian lận.

Chương 4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam

Chương này xác định 3 nhóm định hướng hoàn thiện:

  1. Phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng;
  2. Đáp ứng các tiêu chí hoàn thiện pháp luật: bảo đảm tính toàn diện, tính đồng bộ, tính thống nhất, tính phù hợp và tính khả thi;
  3. Khắc phục triệt để các vướng mắc, bất cập thực tiễn và hài hòa hóa với tập quán thương mại quốc tế.

Các nhóm giải pháp cụ thể được luận án kiến nghị:

  • Sửa đổi khái niệm bảo lãnh ngân hàng và bổ sung khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng trong Luật Các tổ chức tín dụng nhằm xác lập rõ tư cách hợp đồng và bản chất cấp tín dụng dịch vụ;
  • Luật hóa nguyên tắc bảo đảm tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng thành một điều khoản riêng biệt trong văn bản quy phạm pháp luật, tách biệt tuyệt đối nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng khỏi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cơ sở;
  • Hoàn thiện nội dung các quy định hiện hành theo 5 nhóm vấn đề: chuẩn hóa quy trình thẩm định và kiểm tra chứng từ; minh định rõ chủ thể yêu cầu cấp bảo lãnh và chủ thể được bảo lãnh; bổ sung quy định chi tiết về hợp đồng cấp bảo lãnh và cam kết bảo lãnh; hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và quyền viện dẫn áp dụng tập quán quốc tế;
  • Thay đổi tên gọi, nâng cao hiệu lực pháp lý và tái cấu trúc văn bản điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng (thay thế Thông tư số 28/2012/TT-NHNN);
  • Các giải pháp hỗ trợ khác: Xây dựng quy chế quản trị rủi ro nội bộ tại các ngân hàng thương mại, đào tạo cán bộ thẩm định pháp lý và đẩy mạnh áp dụng chuẩn mực Basel II.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các điểm mới và đóng góp khoa học về lý luận và thực tiễn như sau:

Về lý luận:

  • Xây dựng định nghĩa khoa học về bảo lãnh ngân hàng và hoạt động bảo lãnh ngân hàng, phân biệt rõ hoạt động bảo lãnh ngân hàng với bảo lãnh dân sự thông thường;
  • Hệ thống hóa các đặc điểm bản chất của bảo lãnh ngân hàng, đặc biệt là tính độc lập pháp lý và tính không thể đơn phương hủy ngang;
  • Nhận diện toàn diện các loại hình rủi ro pháp lý và rủi ro hoạt động phát sinh đối với từng chủ thể trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng;
  • Xác lập khái niệm, đặc điểm, nội dung và các yếu tố chi phối của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng, định vị 5 nhóm chế định điều chỉnh cốt lõi.

Về thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện:

  • Hệ thống hóa quá trình phát triển pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam qua các mốc lịch sử từ năm 1990 đến năm 2015;
  • Chỉ ra các mâu thuẫn, bất cập cụ thể trong hệ thống pháp luật thực định Việt Nam theo 5 nhóm nội dung (trình tự thủ tục, chủ thể, hợp đồng cấp bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh, giải quyết tranh chấp); phân tích sự không tương thích giữa Bộ luật Dân sự 2005 với Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và các quy tắc quốc tế của ICC (URDG 758, ISP 98);
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và lập quy cụ thể, bao gồm việc sửa đổi khái niệm luật định, luật hóa nguyên tắc tính độc lập của cam kết bảo lãnh thành điều khoản riêng biệt, và cơ cấu lại văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn ở hoạt động bảo lãnh mang tính thương mại, vì mục tiêu sinh lợi do các tổ chức tín dụng cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp; đề tài không đi sâu giải quyết các quan hệ bảo lãnh công, bảo lãnh phi lợi nhuận của Chính phủ, Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng Nhà nước. Về mặt khảo sát thực tiễn áp dụng, luận án chủ yếu thu thập dữ liệu và nghiên cứu điển hình tại một số ngân hàng thương mại lớn (như Vietcombank, Techcombank, Agribank, SHB) mà chưa bao quát toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm:

  • Nghiên cứu chế định bảo lãnh của Chính phủ và bảo lãnh phi thương mại dưới góc độ pháp luật tài chính công;
  • Nghiên cứu sâu cơ chế xử lý gian lận (fraud exception) trong bảo lãnh ngân hàng và thẩm quyền áp dụng lệnh khẩn cấp tạm thời của Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam;
  • Khảo sát thực chứng, đánh giá tác động định lượng của các văn bản pháp luật mới sau khi sửa đổi Thông tư số 28/2012/TT-NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp): Cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng và hoàn thiện các thông tư hướng dẫn về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia và tập quán quốc tế;
  • Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng: Hữu ích cho cán bộ pháp chế, cán bộ quản trị rủi ro và cán bộ tín dụng trong việc hoàn thiện quy chế bảo lãnh nội bộ, chuẩn hóa quy trình thẩm định, soạn thảo mẫu hợp đồng cấp bảo lãnh và cam kết bảo lãnh;
  • Giới nghiên cứu, giảng viên và người học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng: Là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo chuyên sâu về chế định bảo lãnh thương mại, đóng góp tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và đào tạo sau đại học.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất pháp lý phân biệt giữa bảo lãnh ngân hàng và bảo lãnh dân sự thông thường theo luận án là gì?
Bảo lãnh dân sự (Điều 361 Bộ luật Dân sự 2005) mang tính phụ thuộc vào hợp đồng cơ sở, nghĩa vụ của bên bảo lãnh chỉ phát sinh khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ, và thường mang tính nhất thời, không vì mục đích kiếm lời. Ngược lại, bảo lãnh ngân hàng là cam kết độc lập với hợp đồng cơ sở, không thể đơn phương hủy ngang, việc thực hiện thanh toán dựa thuần túy trên sự xuất trình chứng từ phù hợp quy định trong cam kết bảo lãnh; đồng thời đây là nghiệp vụ cấp tín dụng chuyên nghiệp có thu phí do tổ chức tín dụng thực hiện.

2. Hoạt động bảo lãnh ngân hàng bao gồm những mối quan hệ hợp đồng nào và mối quan hệ giữa chúng ra sao?
Hoạt động bảo lãnh ngân hàng làm phát sinh hai quan hệ hợp đồng:

  • Hợp đồng cấp bảo lãnh giữa ngân hàng (bên bảo lãnh) và khách hàng (bên được bảo lãnh);
  • Hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng (bên bảo lãnh) và bên thụ hưởng (bên nhận bảo lãnh). Hai hợp đồng này tồn tại độc lập về mặt hiệu lực pháp lý (hợp đồng này vô hiệu không đương nhiên làm hợp đồng kia vô hiệu), nhưng chi phối lẫn nhau: hợp đồng cấp bảo lãnh là căn cứ hình thành cam kết bảo lãnh, còn hợp đồng bảo lãnh là bằng chứng về việc thực hiện hợp đồng cấp bảo lãnh.

3. Tại sao luận án kiến nghị phải quy định nguyên tắc tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng thành điều khoản riêng biệt?
Bởi vì quy định thực định của Việt Nam thời điểm nghiên cứu (Bộ luật Dân sự 2005) vẫn coi bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang tính phụ thuộc, cho phép bên bảo lãnh viện dẫn các vi phạm hoặc tranh chấp từ hợp đồng cơ sở để từ chối thanh toán. Việc luật hóa nguyên tắc độc lập thành điều khoản riêng biệt giúp bảo vệ quyền đòi tiền chính đáng của người thụ hưởng theo chuẩn mực URDG 758, ngăn chặn việc ngân hàng trì hoãn thanh toán, đồng thời giảm thiểu tranh chấp quốc tế khi các bên thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại của ICC.

4. Quá trình phát triển pháp luật bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam được chia thành các giai đoạn nào và văn bản đầu tiên là gì?
Luận án chia tiến trình phát triển thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1990 – 1996: Bắt đầu chuyển đổi kinh tế, ghi nhận văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về hoạt động này là Quyết định số 192/NH-QĐ ngày 17/09/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về bảo lãnh, tái bảo lãnh vay vốn nước ngoài;
  • Giai đoạn 1996 – 2010: Giai đoạn ban hành và thực thi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997;
  • Giai đoạn 2010 đến nay (thời điểm 2015): Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực cùng Thông tư số 28/2012/TT-NHNN.

5. Cơ chế vận hành của bảo lãnh gián tiếp khác gì so với bảo lãnh trực tiếp?
Bảo lãnh trực tiếp có 3 bên: ngân hàng phát hành bảo lãnh trực tiếp cho người thụ hưởng theo yêu cầu của khách hàng và trực tiếp truy đòi bồi hoàn từ khách hàng. Bảo lãnh gián tiếp có 4 bên: khách hàng yêu cầu ngân hàng thứ nhất (ngân hàng chỉ thị - Instructing Bank) đề nghị ngân hàng thứ hai (ngân hàng phát hành - Issuing Bank) phát hành cam kết bảo lãnh cho người thụ hưởng. Mối liên kết giữa hai ngân hàng được bảo đảm qua một bảo lãnh đối ứng (Counter Guarantee). Khi có vi phạm, ngân hàng phát hành thanh toán cho người thụ hưởng rồi đòi bồi hoàn từ ngân hàng chỉ thị; sau đó ngân hàng chỉ thị mới truy đòi khách hàng.

Kết luận

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thành Nam là công trình khoa học pháp lý chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học nghiên cứu toàn diện về chế định bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam. Bằng phương pháp tiếp cận định tính kết hợp phân tích chuẩn tắc và so sánh luật học, luận án đã làm rõ bản chất độc lập của bảo lãnh ngân hàng và cấu trúc hai tầng hợp đồng của hoạt động này. Các phân tích thực trạng đã chỉ rõ sự xung đột giữa Bộ luật Dân sự, pháp luật ngân hàng thực định và các tập quán quốc tế như URDG 758. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng rõ rệt cho công tác lập pháp và quản trị ngân hàng thương mại.