Chương 1: Những vấn đề lý luận về đề nghị giao kết hợp đồng trong điều kiện toàn cầu hóa. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về đề nghị giao kết hợp đồng và kiến nghị về hoàn thiện nhằm thúc đẩy các quan hệ thương mại trong điều kiện toàn cầu hóa. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA 1. Khái niệm và bản chất của đề nghị giao kết hợp đồng.
Khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng. Mỗi bên trong quan hệ hợp đồng chỉ có thể đóng góp vào sự thoả thuận một thành tố nhất định trong hai thành tố “đề nghị giao kết hợp đồng” và “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” mà có thể gọi ngắn gọn là “đề nghị” và “chấp nhận” theo thuật ngữ chuyên môn” [4, tr. Cần khẳng định rằng hợp đồng nào cũng là sự thoả thuận, nhưng không phải sự thoả thuận nào cũng là hợp đồng, có nghĩa là thỏa thuận là một khái niệm rộng hơn hợp đồng. Đối với truyền thống Common Law cũng vậy, sự thoả thuận là yếu tố đầu tiên của hợp đồng mà có bản chất là sự thống nhất ý chí (a meeting of minds) của các bên giao kết hợp đồng, và là yếu tố dễ gây tranh cãi nhất [1, tr.
Đề nghị (hay đề nghị giao kết hợp đồng) của một bên chủ thể luôn đợc coi là một sự biểu lộ ý chí, một sự thể hiện mong muốn tạo lập nên một ràng buộc trong khuôn khổ của một hợp đồng đối với bên chủ thể còn lại. Tuy nhiên, không phải lúc nào sự thể hiện mong muốn này cũng giống nhau, theo một khuôn mẫu hay là dễ dàng nhận biết. Trên thực tế, có rất nhiều sự thể hiện gây nhiều tranh cãi và phải cần sự điều chỉnh của pháp luật. Tất cả các hệ thống pháp luật đều tôn trọng ý chí của con người, tôn trọng những quyết định của họ xuất phát từ học thuyết tự do ý chí.
Học thuyết này cho rằng con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình, và có quyền định đoạt tất cả những gì thuộc về mình [5]. Vì vậy từ lâu người ta đã coi hợp đồng là luật của các bên giao kết. Khi một nguời đưa ra ý chí của anh ta muốn được thực hiện một công việc, đặt trong mối tương quan với 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một chủ thể khác, đánh đổi một vật, một quyền lợi của mình để lấy về một lợi ích hay một vật thoả mãn nhu cầu cá nhân nhưng không xâm hại đến trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục hay quyền và lợi ích của người khác thì hợp đồng giữa họ, hay nói cách khác luật giữa họ, được tất cả mọi thực thể khác tôn trọng và không thể xâm hại. Như vậy hợp đồng được cho thi hành.
Định nghĩa về đề nghị đã được nói tới ở nhiều tài liệu, cũng như văn bản pháp luật. Nhìn chung, định nghĩa về đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005 có sự khác biệt nhiều so với pháp luật của các nước trên thế giới. Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể” (Điều 390, khoản 1). Trong khi đó Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế định nghĩa: “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ tính xác định và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó.
Một đề nghị là đủ tính xác định khi nó nêu rõ hàng hoá và ấn định số lượng và giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qui định thể thức xác định những yếu tố này. Có lẽ Bộ luật Dân sự 2005 có sự tham khảo Công ước Viên 1980 về người được gửi đề nghị tới, nên cho rằng đề nghị phải được gửi tới người được xác định cụ thể. Bởi là Công ước chuyên cho mua bán hàng hóa quốc tế nên việc chào mua hay chào bán không thể gửi cho những người không xác định. Nhưng trong hoàn cảnh của một quốc gia và với những loại hợp đồng khác thì qui tắc này sẽ là không thích hợp.
Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 định nghĩa đề nghị giao kết hợp đồng có khác hơn như sau: “Một đề xuất 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (proposal) được gọi là đề nghị (offer) nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện ý chí của bên đưa ra đề nghị bị ràng buộc khi đề nghị giao kết được chấp nhận” (Điều 2. Định nghĩa này cho thấy không có sự xuất hiện của bên được đề nghị. Các định nghĩa tương tự luôn được tìm thấy trong các hệ thống theo Common Law. Chẳng hạn: “Đề nghị là một đề xuất được tạo bởi một bên đưa tới đến bên khác biểu lộ mong muốn được giao kết hợp đồng.
Bên tạo nên lời đề nghị được gọi là bên đề nghị (offeror). Bên nhận được lời đề nghị đó được gọi là bên được đề ghị (offeree)” [3, tr. “Sự trao đổi sẽ được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng nếu như nó chỉ ra những điều khoản mà được hiểu là người đưa ra đề nghị đã chuẩn bị để tạo lập hợp đồng (như giá bán của hàng hóa) và biểu lộ rõ ràng rằng người đưa ra đề nghị có ý định chịu sự ràng buộc bởi những điều khoản đó nếu như nó được người được đề nghị chấp nhận” [3, tr. Từ những định nghĩa nêu trên, có thể thấy: pháp luật nước ngoài đều nêu hay xác định yếu tố biểu đạt sự chấp nhận của bên được đề nghị trong khi đó dường như pháp luật Việt Nam đã tách rời yếu tố này và chỉ qui định về sự biểu đạt ý chí rõ ràng của bên đưa ra đề nghị xác định.
Việc qui định như vậy trong pháp luật Việt Nam dường như đã tách bạch đề nghị giao kết hợp đồng với chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay là làm cho sự nhận diện đề nghị giao kết hợp đồng là một yếu tố cấu thành nên hợp đồng trở nên mờ nhạt hơn. Như vậy có những yếu tố không thể thiếu mà tất cả các hệ thống pháp luật đều thừa nhận đối với đề nghị giao kết hợp đồng – đó là: Một, phải có một bên đưa ra đề nghị. Bên này phải là một chủ thể xác định. Yếu tố xác định này có thể thể hiện ở việc: khi đưa ra lời đề nghị, bên đề nghị nêu rõ hoặc thể hiện rõ trong phần người gửi hoặc trong nội dung đề nghị về trụ sở kinh doanh (nếu là pháp nhân), địa chỉ thường trú (nếu là thể 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân) hoặc làm cách khác để người được đề nghị có thể hoặc chắc chắn sẽ xác định chính xác được yếu tố này.
Hai, phải có một bên được đề nghị và đã nhận được đề nghị. Bên được đề nghị là một hay nhiều người, có thể xác định hay không thể xác định. Chẳng hạn: mua bán tại sở giao dịch hàng hóa hay sở giao dịch chứng khoán- nơi được xem là diễn ra các hoạt động chào bán, chào mua liên tục, khó có thể có bên được đề nghị xác định. Cũng như vậy trong việc hứa thưởng, thi có giải.
Ba, đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện được ý chí hay ý định giao kết hợp đồng hay mong muốn bị ràng buộc của bên đưa ra đề nghị vào quan hệ hợp đồng với bên được đề nghị, có nghĩa là nếu đề nghị đó được bên được đề nghị chấp nhận thì hai bên bị ràng buộc vào quan hệ hợp đồng. Trong tất cả các hệ thống pháp luật đều không công nhận sự đàm phán lại của đề nghị giao kết hợp đồng. Khi một đề nghị giao kết được đưa ra mà có sự tồn tại của đàm phán hay thay đổi cơ bản thì đề nghị ban đầu thường chấm dứt sự tồn tại và đơn giản chỉ là một sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể. Sự thể hiện ý chí của các bên chỉ được xem là một bước thể hiện ý chí của một giai đoạn đàm phán.
Chỉ đến chừng nào tồn tại một sự thể hiện ý chí rõ ràng của một bên và bên còn lại chấp nhận một cách vô điều kiện, thì sự thể hiện ý chí đó mới được xem xét là một đề nghị giao kết hợp đồng. Bên thể hiện ý chí đó được xem là bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng. Bên còn lại là bên được đề nghị. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên được đề nghị gửi chấp nhận hoặc vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận tuỳ thuộc vào từng hệ thống pháp luật.
Bốn, có sự ràng buộc pháp lý giữa các bên khi có sự thống nhất ý chí. Sự thống nhất ý chí được thể hiện chắc chắn ở việc người được đề nghị chấp nhận trùng khít với đề nghị, có nghĩa là bên được đề nghị đồng ý với bên đề 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghị bản chất pháp lý của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng và các điều kiện khác của hợp đồng mà được bên đề nghị đưa ra trong đề nghị. Hầu hết các hệ thống pháp luật đều đề cập tới khái niệm “đề nghị ngược trở lại” (counter offer). Sự thay đổi vị trí lẫn nhau của hai bên chủ thể gây ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của các cam kết của hai bên.
Một chấp nhận trở thành đề nghị ngược trở lại hay còn gọi là “đề nghị mới” khi chấp nhận không trùng khít với đề nghị. Trong trường hợp này bên được đề nghị bị hoán đổi vị trí cho bên đề nghị ban đầu, có nghĩa là lại trở thành bên đưa ra đề nghị mới. Và như vậy hợp đồng chỉ được xem là giao kết khi lời đề nghị mới này được chấp nhận trùng khít. Có thể hiểu từ việc chấp nhận của mình, bên được đề nghị ban đầu lại trở thành bên đề nghị ngược trở lại bởi sự chấp nhận không trùng khít.
Chỉ trở thành hợp đồng ràng buộc các bên khi người đề nghị ban đầu (original offeror) chấp nhận đề nghị ngược trở lại. Khi một đề nghị giao kết hợp đồng được khởi xướng bởi người đưa ra đề nghị ban đầu và gửi tới người được đề nghị.