Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản trị CTCP Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CTCP 1. Khái niệm CTCP Khái niệm về CTCP của các nước trên thế giới không giống nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất quan niệm: CTCP là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty, vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần, trong quá trình hoạt động, CTCP được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn. Chẳng hạn Điều 1041 LCT Anh 2006 định nghĩa: “CTCP có nghĩa là một công ty - (A) có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác và (B) thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác”. Ở Pháp, CTCP hay còn gọi là công ty vô danh được ra đời khá sớm (Luật công ty ngày 14/12/1985).
Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. Công ty nếu đủ điều kiện, có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Theo Luật quy định điều kiện để công ty phát hành các loại chứng khoán là: phải có ít nhất 7 cổ đông, vốn pháp định tối thiểu là 25.000 FF (đối với các công ty phát hành chứng khoán), mệnh giá thống nhất mỗi cổ phiếu là 100 FF. Về bản chất, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới tương đối tương đồng khi quy định về khái niệm CTCP.
Điều 110 LDN 2014 quy định “CTCP là DN, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và 12 nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN. CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”. Tương tự như LDN 2005, LDN 2014 không đưa ra một khái niệm khái quát mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp lý để nhận diện CTCP nhưng quy định này đã xác định tư cách pháp lý tồn tại của CTCP theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt loại hình CTCP với các loại hình DN khác.
LDN 2014 không có nhiều sửa đổi về khái niệm CTCP, chỉ thay đổi cụm từ “Giấy chứng nhận ĐKKD” thành “Giấy chứng nhận đăng ký DN” cho phù hợp với tên của loại giấy chứng nhận hiện đang được áp dụng; và sửa đổi nội dung: CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Theo đó, CTCP giới hạn việc huy động vốn bằng việc phát hành các loại cổ phần, chứ không quy định chung là “chứng khoán các loại” như trước đây. Từ khái niệm về CTCP quy định tại Điều 110 LDN 2014, có thể nhận thấy, CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau: Một là, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần.
Hai là, về tư cách pháp lý: CTCP có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký DN (trước đây gọi là giấy chứng nhận ĐKKD; ĐKKD và đăng ký thuế), hoạt động độc lập, tự mình tham gia vào các giao dịch; xác lập các quyền và nghĩa vụ cho công ty. Ba là, về số lượng cổ đông: CTCP phải có ít nhất ba cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa. Như vậy, về lý thuyết các CTCP có thể có hàng ngàn, hàng vạn cổ đông. và cổ đông có thể mang quốc tịch khác nhau.
Tuy nhiên, do có quá nhiều cổ đông nên việc sở hữu vốn điều lệ của công ty sẽ bị phân tán cho nhiều cổ đông, lợi ích của các cổ đông cũng có thể không thống nhất hay đôi khi là sự xung đột lợi ích 13 giữa các nhóm cổ đông. Khác với công ty TNHH, nhiều cổ đông CTCP không biết nhau và chủ yếu họ quan tâm đến cổ phần và cổ tức, giá trị gia tăng của cổ phần. Bốn là, chế độ trách nhiệm: cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; như vậy, cổ đông của CTCP chỉ chịu TNHH đối với các khoản nợ của công ty. CTCP với tư cách là một pháp nhân sẽ tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty, cổ đông không phải chịu trách nhiệm thay CTCP về các khoản nợ của công ty.
Năm là, về khả năng chuyển nhượng cổ phần: So với mô hình công ty TNHH, phần vốn góp của cổ đông trong CTCP (tức là cổ phần) có khả năng chuyển nhượng dễ dàng hơn. Về nguyên tắc, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình sở hữu, trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Điều 84) và cổ phần ưu đãi biểu quyết (Điều 81). Sáu là, huy động vốn: Trước đây, theo khoản 3, Điều 77 LDN 2005 thì CTCP có quyền phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn theo quy định của pháp luật. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Khoản 3 Điều 110 LDN 2014 đã quy định CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Như vậy, điều luật này không hạn chế quyền phát hành các loại chứng khoán khác của CTCP, nhưng cũng không thừa nhận rõ ràng quyền phát hành các loại chứng khoán khác. Vì vậy, sẽ dẫn đến tình trạng phải áp dụng pháp luật chứng khoán để điều chỉnh vấn đề này. Khái niệm quản trị CTCP Quản trị CTCP hay còn gọi là quản trị công ty có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi nước… Hiện nay có một số cách hiểu về quản trị CTCP như sau: Theo Ngân hàng thế giới (WB), quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty.
Nó cho phép công ty có thể 14 thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống quản trị công ty là: Thứ nhất, tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; Thứ hai, bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông, Thứ ba, các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết [8]. Ngoài ra có quan điểm cho rằng quản trị công ty có thể hiểu theo hai nghĩa, “quản trị công ty theo nghĩa hẹp được hiểu là cơ chế quản lý – giám sát của chủ sở hữu với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu. Theo nghĩa rộng hơn, quản trị công ty gắn chặt với quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các chủ nợ, người cung cấp, người lao động, thậm chí khách hàng của công ty.
Về mặt tổ chức, quản trị công ty là tập hợp các mối quan hệ giữa chủ sở hữu, HĐQT và các bên liên quan nhằm: xác định mục tiêu, hình thành các công cụ để đạt đạt được mục tiêu và giám sát việc thực hiện mục tiêu của công ty” [8]. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, HĐQT, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó.
Định nghĩa này của OECD có thể coi là định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty, nó đã và đang được rất nhiều nước trên thế giới vận dụng để xây dựng hệ thống pháp luật về quản trị công ty, trong đó có Việt Nam. Theo Quy chế Quản trị Công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng Khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán do Bộ Tài Chính ban hành tháng 03 năm 2007, quản trị công ty được định nghĩa như sau: “Quản trị công ty là 15 hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”.