Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản trị công ty TNHH không phải là vấn đề mới trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Quản trị công ty TNHH đã được nhiều học giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau và kết quả nghiên cứu khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích và cách tiếp cận vấn đề. Quá trình nghiên cứu, thu thập thông tin liên quan đến công ty TNHH nói chung và quản trị công ty TNHH nói riêng từ những công trình khoa học, tài liệu của các tác gia hàng đầu thế giới và Việt Nam, NCS đã xắp xếp theo các nhóm chủ yếu sau: 1.
Tình hình nghiên cứu nước ngoài + Các nghiên cứu liên quan đến bản chất pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn Trên thế giới, các quốc gia có nền kinh tế và luật pháp phát triển thì cơ sở để phân chia các loại hình doanh nghiệp cũng không giống nhau. Về cơ bản, các loại hình công ty được thống nhất phân thành hai loại theo bản chất 7 pháp lý là: công ty đối vốn và công ty đối nhân.TS Friedrich Kuebler và GS.TS Juergen Simon (1992) trong tác phẩm “Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức” [84], để phù hợp với loại hình “các doanh nghiệp quy mô trung bình và nhỏ”, công ty TNHH và Luật công ty TNHH đầu tiên ra đời tại Đức năm 1892, có sau khi có Luật công ty cổ phần năm 1870. Luật công ty TNHH Đức đã dần hoàn thiện qua các thời kỳ và loại hình công ty TNHH cũng dần được công nhận ở các nước phát triển khác như Pháp, Ý, Tây Ban Nha. Điều này xuất phát từ nhu cầu tất yếu của tiến trình lịch sử, của sự biến hóa các loại hình công ty, không thể chỉ bó buộc với công ty cổ phần mà cần có những mô hình năng động hơn, phù hợp với nhu cầu thực tế của các thành phần kinh tế.
Đối với loại hình công ty TNHH, các thành viên công ty dựa trên sự quen biết nhau, chỉ muốn chịu trách nhiệm trong phần vốn góp nên số lượng thành viên thường có giới hạn. Nói cách khác, công ty TNHH được định nghĩa theo thông lệ chung nhất, là loại hình công ty đối vốn, là một pháp nhân, có tài sản độc lập và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng phần vốn góp , có thể kiện và bị kiện [26, tr1]. Luật công ty TNHH của Đức, tồn tại nguyên tắc phân tách. Điều đó có nghĩa là công ty TNHH có quy chế pháp lý độc lập, tách rời khỏi các thành viên [84].
Tuy vậy, dù học theo mô hình này của nước Đức, ở các nước mức độ áp dụng nguyên tắc trên là khác nhau. Theo đánh giá của tác giả Meister/Heidenhain/Rosengarten, The German limited Liability Company, Fritz Knapp Verlag GmbH, Frakfurt am Mains, 2005 [114], Luật công ty của Đức quy định công ty TNHH là sự kết hợp giữa trách nhiệm vô hạn của công ty hợp danh và sự phức tạp của mô hình công ty cổ phần. Sự kết hợp này hướng tới và bảo đảm sự linh hoạt cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ và vừa. Trên tinh thần đó, các nhà làm luật người Đức đã thiết kế công ty TNHH với những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, công ty TNHH có tư cách chủ thể pháp lý độc lập kể từ khi 8 được đăng ký kinh doanh (có tài sản riêng, có các quyền và nghĩa vụ độc lập với các thành viên công ty), được quyền nhân danh chính mình khi tham gia các quan hệ pháp luật và phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản công ty.
Thứ hai, thành viên công ty TNHH phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty. Điểm này khác với trách nhiệm vô hạn của các thành viên công ty hợp danh. Thứ ba, phần vốn góp của các thành viên công ty TNHH có thể được chuyển nhượng giữa các thành viên của công ty và giữa thành viên công ty với người ngoài công ty. Tuy nhiên, việc gia nhập của người ngoài vào công ty TNHH bị hạn chế bởi những điều kiện trong vấn đề chuyển nhượng vốn góp của thành viên.
Như vậy, việc chuyển nhượng góp vốn của thành viên công ty TNHH cần đáp ứng các điều kiện nhất định. Theo đó, có thể nhận thấy rằng: chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty TNHH hạn chế hơn so với chuyển nhượng cổ phần trong CTCP (khác với sự tự do chuyển nhượng cổ phần của CTCP). Thứ tư, số lượng thành viên của công ty TNHH thường không nhiều và các thành viên thường có mối quan hệ thân thiết với nhau. Đặc điểm về số lượng thành viên công ty gần giống với công ty hợp danh.
Do đó, công ty TNHH thường là những công ty có sự tham gia của họ hàng, bạn bè-công ty mang tính chất gia đình hay dòng họ. Đến nay những giá trị trên vẫn còn giá trị và hiện hữu trong đời sống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. + Các trường phái và lý thuyết, ứng dụng về quản trị công ty “Lý thuyết quản trị một cách khoa học” (Scientific Management) của Frederich Winslow Taylor (1856-1915) và các cộng sự (Mỹ) [99]; Henri Fayol (1922): "Quản lý công nghiệp và quản lý tổng hợp (Industrial and General Administration" [100]; Thuyết “Z” và những kỹ thuật quản trị Nhật Bản của Wilian Gouchi [102] và lý thuyết Kaizen của Massakiimai [103]. Maurice Cozian & Alian Vieandier (1989), Tổ chức công ty, tài liệu dịch của Bộ Tư pháp [105].
Ngoài ra, ở nhiều nước đã thành lập các trường riêng để giảng dạy, đào tạo những nhà quản trị doanh nghiệp từ cấp thấp đến cấp cao nhất doanh nghiệp. Có thể kể đến các trường ở Mỹ: Trường MBA (Master of Business Administration), Trường Kinh doanh Ha-vớt (Harvard Business School); ở Nhật: Trường Đào tạo Giám đốc dưới chân núi Phi-ghi. Qua đó, Lý thuyết về Quản trị công ty đều thể hiện ở các phương diện: (i) Các công trình khoa học phản ánh những tư tưởng triết học và những quan điểm của quản trị tiến bộ trong doanh nghiệp. Những tư tưởng về quản trị này, ngày nay vẫn được sử dụng.
(ii) Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình, ví dụ quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, quan hệ giữa cổ đông và Ban giám đốc,v. (iii) Các mối quan hệ trong quản trị công ty có thể liên quan tới các bên có các lợi ích khác nhau, đôi khi là những lợi ích xung đột: Mỗi chủ thể trong công ty đều hướng tới lợi ích của mình, trong khi lợi ích của các chủ thể không giống nhau, và nhiều khi lợi ích của chủ thể này lại gây thiệt hại cho chủ thể khác. Vì vậy, các công ty cần có một hệ thống quản trị tốt để duy trì sự xung đột lợi ích ở mức cho phép, sao cho có lợi nhất cho sự phát triển của công ty. (iv) Các tác phẩm đề cập đến phương pháp quản trị trong phòng giấy, chủ yếu nói về những chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp.
Những tư tưởng, quan điểm cơ bản của cuốn sách cho đến nay vẫn được áp dụng (Henri Fayol). (v) Tất cả các chủ thể tham gia các mối quan hệ trong quản trị công ty đều liên quan tới việc định hướng và kiểm soát công ty: Đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên đưa ra các quyết định có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của cổ đông và thành viên, Ban giám đốc thực hiện nhiệm vụ điều hành các hoạt động thường nhật của công ty. Và mục tiêu của Quản trị công ty là phân chia quyền lợi và trách nhiệm các thành viên một cách phù hợp, qua đó 10 làm tăng giá trị lâu dài của các cổ đông. Kết quả nghiên cứu đều cho rằng Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan.
Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn. Các công trình nghiên cứu tiếp cận về khái niệm và mô hình Quản trị công ty (chủ yếu là công ty thương mại) được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau từ mối quan hệ, sở hữu điều hành hay lợi ích của các bên. Tuy nhiên, vấn đề quản trị nội bộ công ty TNHH nói riêng chưa được các tác giả đề cập đến hoặc đề cập rất ít.
+ Nghiên cứu về các nguyên tắc quản trị công ty Cuốn “Các nguyên tắc quản trị công ty” (OECD Principle of Corporate Governance) xuất bản năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) [37]; Fayol, H. Pinat, Laura Empson (2007), Managing the Modern Law Firm: New Challenges, New Perspectives, Oxford university press; (Quản trị công ty luật hiện đại: Những thách thức mới và viễn cảnh mới).[111] Kết quả nghiên cứu của các công trình chủ yếu đưa ra những nguyên tắc cơ bản của quản trị công ty, đặc biệt là quản trị công ty cổ phần hay doanh nghiệp nhà nước nhằm hướng tới một mô hình quản trị doanh nghiệp hiệu quả. Tuy nhiên, vấn đề quản trị công ty TNHH chưa được các công trình khoa học nêu trên mổ xẻ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ của luận án là làm rõ 11 và xác định cụ thể các nguyên tắc để đảm bảo sự gắn kết logic giữa cái chung và cái riêng trong QTCT TNHH.
+ Nghiên cứu về các thành tố tạo nên nền tảng của quản trị công ty và quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn Vấn đề này được nghiên cứu trong công trình của Everett-Nollkamper, Pamela (2008), Fundamentals of Law Office Management: Systems, Procedures and Ethics, West Legal Studies Series (4th ed. and Angelo Dondi (2004), Legal Ethics: A Comparative Study, Stanford University Press; (Đạo đức pháp lý: cách nhìn theo học thuyết so sánh) [113]; Cally Jordan (3.