HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN BẰNG HÌNH THỨC VÍ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

Tìm hiểu về hoàn thiện pháp luật cho dịch vụ ví điện tử tại Việt Nam. Khám phá các quy định, thực trạng và giải pháp để phát triển thanh toán số an toàn, hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

98
9
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN BẰNG HÌNH THỨC VÍ ĐIỆN TỬ

1.1. Lý luận chung về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.2. Khái niệm dịch vụ trung gian thanh toán

1.3. Khái niệm dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.4. Đặc điểm của dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.5. Pháp luật điều chỉnh dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.6. Định nghĩa và đặc điểm của pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.7. Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.8. Sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.9. Pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.9.1. Pháp luật Trung Quốc về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.9.2. Pháp luật Singapore về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

1.9.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.10. KẾT LUẬN CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN BẰNG HÌNH THỨC VÍ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1. Pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.2. Quy định về chủ thể tham gia giao dịch trong dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.3. Quy định về quản lý Nhà nước trong dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.4. Một số quy định khác về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.5. Đánh giá thực trạng pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.6. Hạn chế và nguyên nhân

2.7. Thực tiễn thi hành pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.7.1. Thực tiễn thi hành pháp luật đối với các chủ thể trong dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.7.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.7.3. Thực tiễn thi hành pháp luật về những quy định khác của dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

2.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN BẰNG HÌNH THỨC VÍ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện thành lập và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện cung ứng dịch vụ

3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ

3.2.3. Hoàn thiện quy định về tài khoản đảm bảo thanh toán

3.2.4. Hoàn thiện các quy định về quyền của đơn vị chấp nhận thanh toán

3.2.5. Hoàn thiện các quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động và xử lý các hành vi vi phạm của tổ chức cung ứng dịch vụ

3.2.6. Hoàn thiện quy định về “tiền điện tử"

3.2.7. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử

3.2.7.1. Đối với Cơ quan quản lý Nhà nước
3.2.7.2. Đối với tổ chức cung ứng dịch vụ
3.2.7.3. Đối với người sử dụng dịch vụ
3.2.7.4. Đối với đơn vị chấp nhận thanh toán
3.2.7.5. Đối với NHTM

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG III

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ví Điện Tử Tổng Quan Vai Trò Trong Thanh Toán Điện Tử

Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ trong thời đại 4.0, các thiết bị điện tử thông minh trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người, đặc biệt là điện thoại di động với nhiều tiện ích như liên lạc, kết nối internet mọi lúc mọi nơi, dùng để giải trí và đặc biệt là chức năng thanh toán điện tử. Vậy nên, các dịch vụ trung gian thanh toán cũng trở thành xu hướng tất yếu không chỉ của các nước trên thế giới nói chung mà còn của Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ dịch Covid 19. Theo ông Phạm Anh Tuấn Vụ trưởng Vụ Thanh toán cho biết, “hiện nay các tổ chức trung gian thanh toán hầu hết cung cấp đầy đủ các dịch vụ cơ bản như ví điện tử, thu chi hộ, dịch vụ cổng thanh toán. Trong đó sự tăng trưởng của ví điện tử rất đáng chú ý. Năm 2023 ghi nhận tổng số lượng giao dịch ước đạt xấp xỉ 4,09 tỷ giao dịch với giá trị giao dịch đạt khoảng 1,90 triệu tỷ đồng tăng 47,15% về số lượng và 41,78% về giá trị so với năm 2022. Bình quân 1 ví điện tử đang hoạt động phát sinh khoảng 10 giao dịch/tháng, cùng giao dịch là xấp xỉ 4,80 triệu đồng/tháng”. Do vậy mà dịch vụ trung gian thanh toán không còn là điều xa lạ đối với người dân Việt Nam.

1.1. Dịch Vụ Trung Gian Thanh Toán Định Nghĩa và Vai Trò

Khái niệm “DVTGTT” (Payment Intermediary Service) có thể được hiểu là một dịch vụ được cung cấp bởi một thực thể hoặc tổ chức nhằm hỗ trợ việc chuyển tiền giữa các bên tham gia vào giao dịch tài chính. DVTGTT rất cần thiết trong các hệ thống tài chính hiện đại vì chúng cho phép các giao dịch diễn ra suôn sẻ và an toàn. Theo luật Việt Nam, DVTGTT được định nghĩa tại Khoản 10 Điều 6 Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam 2010 như sau: “DVTGTT là một hoạt động làm trung gian kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán”.Như vậy, dịch vụ này là do các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đóng vai trò là bên thứ ba (bên trung gian) thực hiện cung cấp dịch vụ thanh toán cho người gửi và người nhận tiền, giúp chuyển tiền từ bên này sang bên khác.

1.2. Phân Biệt Dịch Vụ Trung Gian Thanh Toán và Dịch Vụ Thanh Toán

DVTGTT khác với DVTT ở do DVTT tập trung vào việc chuyển đổi giá trị tiền tệ hoặc tài chính từ bên này sang bên khác trong một giao dịch còn DVTGTT sẽ hỗ trợ quá trình giao dịch bằng cách cung cấp các dịch vụ và cơ sở hạ tầng để điều hành và quản lý giao dịch thanh toán. Ngoài ra, để được kinh doanh DVTGTT, các tổ chức, cá nhân cần được cấp giấy phép hoạt động cung ứng DVTGTT theo Điều 15 và 16 NĐ 101/2012/NĐ- CP sửa đổi bổ sung bởi NĐ 80/2016/NĐ-CP.

II. Dịch Vụ Ví Điện Tử Phân Loại và Đặc Điểm Pháp Lý

Theo Điều 2 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT-NHNN về dịch vụ trung gian thanh toán, DVTGTT được chia làm hai loại chính, bao gồm: Dịch vụ cung ứng các hạ tầng thanh toán điện tử và dịch vụ hỗ trợ thanh toán điện tử. Thứ nhất, dịch vụ cung ứng các hạ tầng thanh toán điện tử có thể hiểu đơn giản là các dịch vụ tạo lập cơ sở hạ tầng cho việc thực hiện thanh toán điện tử của các tổ chức cung ứng dịch vụ. Dịch vụ này bao gồm ba loại dịch vụ sau: Dịch vụ chuyển mạch tài chính, dịch vụ bù trừ điện tử. Dịch vụ hỗ trợ thanh toán điện tử. Dịch vụ này giúp giảm thiểu rủi ro khi quản lý và giảm rủi ro trong các giao dịch, thường liên quan đến việc điều phối và so khớp các tài khoản thanh toán giữa các...

2.1. Dịch Vụ Chuyển Mạch Tài Chính Kết Nối Giao Dịch Điện Tử

Dịch vụ chuyển mạch tài chính: “là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử để thực hiện các giao dịch thanh toán thông qua ATM, POS, Internet, điện thoại di động và các kênh giao dịch điện tử khác giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và/hoặc giữa các tổ chức cung ứng DVTGTT” theo Khoản 1 Điều 3 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT- NHNN. Dịch vụ này được hiểu đơn giản là việc di chuyển tiền hoặc thông tin tiền tệ giữa các bên tham gia trong một giao dịch. Tại Việt Nam, hiện nay chỉ có duy nhất một đơn vị thực hiện dịch vụ chuyển mạch tài chính là NAPAS (Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam).

2.2. Dịch Vụ Bù Trừ Điện Tử Đối Chiếu và Quyết Toán Thanh Toán

Dịch vụ bù trừ điện tử: “là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc tiếp nhận, đối chiếu dữ liệu thanh toán và tính toán kết quả số tiền phải thu, phải trả sau khi bù trừ giữa các thành viên tham gia để thực hiện việc quyết toán cho các bên có liên quan” theo Khoản 2 Điều 3 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT-NHNN.

III. Pháp Luật Việt Nam Điều Chỉnh Dịch Vụ Thanh Toán Ví Điện Tử

Thứ hai, pháp luật Việt Nam có quan tâm đến lĩnh vực này, thể hiện ở việc quy định trong các văn bản như NĐ 101/2012/NĐ-CP sửa đổi bởi NĐ 80/2016/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt và TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT- NHNN về dịch vụ trung gian thanh toán, Luật An toàn thông tin mạng 2015,… và các văn bản có liên quan khác. Vấn đề này được quy định rải rác trong các văn bản luật, nội dung vẫn còn chồng chéo, chưa thống nhất , vẫn còn một số quy định đem lại hiệu quả kém khi thực thi. Do vậy, yêu cầu về việc hoàn thiện khung pháp lý đối với quy phạm về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử là vô cùng cần thiết. Từ đó, tác giả đã lựa chọn đề tài khóa luận: “Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử ở Việt Nam” để nghiên cứu nhằm cung cấp những cơ sở lý luận cùng với thể hiện góc nhìn mới mẻ về thực trạng và thực tiễn thực thi quy định pháp luật về DVTTBHTVĐT. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về DVTTBHTVĐT tại Việt Nam hiện nay.

3.1. Các Văn Bản Pháp Luật Điều Chỉnh Ví Điện Tử Hiện Hành

NĐ 101/2012/NĐ-CP sửa đổi bởi NĐ 80/2016/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt và TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT- NHNN về dịch vụ trung gian thanh toán, Luật An toàn thông tin mạng 2015

3.2. Sự Cần Thiết Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Cho Ví Điện Tử

Vấn đề này được quy định rải rác trong các văn bản luật, nội dung vẫn còn chồng chéo, chưa thống nhất , vẫn còn một số quy định đem lại hiệu quả kém khi thực thi. Do vậy, yêu cầu về việc hoàn thiện khung pháp lý đối với quy phạm về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử là vô cùng cần thiết.

IV. Thực Trạng Thi Hành Hạn Chế Pháp Luật Về Ví Điện Tử

Các vi phạm trong dịch vụ ví điện tử ngày càng phức tạp, tinh vi do sự phát triển của công nghệ và những thủ đoạn lừa đảo của kẻ mang mục đích xấu. Ngoài ra, có nhiều trường hợp lợi dụng khe hở pháp luật trong lĩnh vực này thực hiện hành vi gây thiệt hại cho cả người dùng, doanh nghiệp và xã hội như rửa tiền, cờ bạc chuyển tiền qua ví điện tử. Do vậy, pháp luật cần 1 phải can thiệp và quy định rõ ràng về vấn đề này để bảo vệ các chủ thể trong quan hệ pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử.

4.1. Rủi Ro và Vi Phạm Phổ Biến Trong Dịch Vụ Ví Điện Tử

Các vi phạm trong dịch vụ ví điện tử ngày càng phức tạp, tinh vi do sự phát triển của công nghệ và những thủ đoạn lừa đảo của kẻ mang mục đích xấu. Ngoài ra, có nhiều trường hợp lợi dụng khe hở pháp luật trong lĩnh vực này thực hiện hành vi gây thiệt hại cho cả người dùng, doanh nghiệp và xã hội như rửa tiền, cờ bạc chuyển tiền qua ví điện tử.

4.2. Yêu Cầu Bảo Vệ Quyền Lợi Các Bên Liên Quan

Do vậy, pháp luật cần 1 phải can thiệp và quy định rõ ràng về vấn đề này để bảo vệ các chủ thể trong quan hệ pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử.

V. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Ví Điện Tử Góc Nhìn Mới

Từ đó, khóa luận đưa ra những phân tích, đánh giá về thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi những quy định đó và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật để tăng tính khả thi của pháp luật. Phạm vi nghiên cứu: gồm quy chế pháp lý điều chỉnh DVTTBHTVĐT ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở nghiên cứu đồng thời các vấn đề lý luận về DVTTBHTVĐT; các quy định pháp luật về DVTTBHTVĐT của hai quốc gia Châu Á là Trung Quốc và Singapore; thực trạng của DVTTBHTVĐT ở Việt Nam.

5.1. Phân Tích và Đánh Giá Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật

Từ đó, khóa luận đưa ra những phân tích, đánh giá về thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi những quy định đó và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật để tăng tính khả thi của pháp luật.

5.2. Nghiên Cứu Kinh Nghiệm Quốc Tế và Đề Xuất Giải Pháp

gồm quy chế pháp lý điều chỉnh DVTTBHTVĐT ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở nghiên cứu đồng thời các vấn đề lý luận về DVTTBHTVĐT; các quy định pháp luật về DVTTBHTVĐT của hai quốc gia Châu Á là Trung Quốc và Singapore; thực trạng của DVTTBHTVĐT ở Việt Nam.

VI. Tương Lai Pháp Luật Ví Điện Tử Thúc Đẩy Kinh Tế Số

Để giải quyết hạn chế đó, nhằm nâng cao, hoàn thiện hiệu quả thi hành pháp luật về vấn đề này. Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung vào phân tích những lý luận chung về DVTTBHTVĐT bao gồm những quy định về các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, quản lý nhà nước và các quy định khác có liên quan đến vấn đề này. Từ đó, khóa luận đưa ra những phân tích, đánh giá về thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi những quy định đó và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật để tăng tính khả thi của pháp luật.

6.1. Đánh Giá Hiệu Quả Thi Hành Pháp Luật Hiện Tại

Để giải quyết hạn chế đó, nhằm nâng cao, hoàn thiện hiệu quả thi hành pháp luật về vấn đề này.

6.2. Định Hướng Phát Triển Pháp Luật Ví Điện Tử Tương Lai

Khóa luận tập trung vào phân tích những lý luận chung về DVTTBHTVĐT bao gồm những quy định về các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, quản lý nhà nước và các quy định khác có liên quan đến vấn đề này.

26/04/2025
Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN BẰNG HÌNH THỨC VÍ ĐIỆN TỬ 1. Lý luận chung về dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử 1. Khái niệm dịch vụ trung gian thanh toán: Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ trong thời đại 4.0, các thiết bị điện tử thông minh trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người, đặc biệt là điện thoại di động với nhiều tiện ích như liên lạc, kết nối internet mọi lúc mọi nơi, dùng để giải trí và đặc biệt là chức năng thanh toán. Vậy nên, các DVTGTT cũng trở thành xu hướng tất yếu không chỉ của các nước trên thế giới nói chung mà còn của Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ dịch Covid 19.

Theo ông Phạm Anh Tuấn Vụ trưởng Vụ Thanh toán cho biết, “hiện nay các tổ chức trung gian thanh toán hầu hết cung cấp đầy đủ các dịch vụ cơ bản như VĐT, thu chi hộ, dịch vụ cổng thanh toán. Trong đó sự tăng trưởng của VĐT rất đáng chú ý. Năm 2023 ghi nhận tổng số lượng giao dịch ước đạt xấp xỉ 4,09 tỷ giao dịch với giá trị giao dịch đạt khoảng 1,90 triệu tỷ đồng tăng 47,15% về số lượng và 41,78% về giá trị so với năm 2022. Bình quân 1 VĐT đang hoạt động phát sinh khoảng 10 giao dịch/tháng, cùng giao dịch là xấp xỉ 4,80 triệu đồng/tháng” (Sơn, 2024).

Do vậy mà DVTGTT không còn là điều xa lạ đối với người dân Việt Nam. Khái niệm “DVTGTT" (Payment Intermediary Service) có thể được hiểu là một dịch vụ được cung cấp bởi một thực thể hoặc tổ chức nhằm hỗ trợ việc chuyển tiền giữa các bên tham gia vào giao dịch tài chính. DVTGTT rất cần thiết trong các hệ thống tài chính hiện đại vì chúng cho phép các giao dịch diễn ra suôn sẻ và an toàn.Theo luật Việt Nam, DVTGTT được định nghĩa tại Khoản 10 Điều 6 Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam 2010 như sau: “DVTGTT là một hoạt động làm trung gian kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và NSDDV thanh toán”. Như vậy, dịch vụ này là do các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đóng vai trò là bên thứ ba (bên trung gian) thực hiện cung cấp dịch vụ thanh toán cho người gửi và người nhận tiền, giúp chuyển tiền từ bên này sang bên khác.

6 DVTGTT khác với DVTT ở do DVTT tập trung vào việc chuyển đổi giá trị tiền tệ hoặc tài chính từ bên này sang bên khác trong một giao dịch còn DVTGTT sẽ hỗ trợ quá trình giao dịch bằng cách cung cấp các dịch vụ và cơ sở hạ tầng để điều hành và quản lý giao dịch thanh toán. Ngoài ra, để được kinh doanh DVTGTT, các tổ chức, cá nhân cần được cấp giấy phép hoạt động cung ứng DVTGTT theo Điều 15 và 16 NĐ 101/2012/NĐ- CP sửa đổi bổ sung bởi NĐ 80/2016/NĐ-CP. Theo Điều 2 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT-NHNN về DVTGTT, DVTGTT được chia làm hai loại chính, bao gồm: Dịch vụ cung ứng các hạ tầng thanh toán điện tử và dịch vụ hỗ trợ thanh toán điện tử. Thứ nhất, dịch vụ cung ứng các hạ tầng thanh toán điện tử có thể hiểu đơn giản là các dịch vụ tạo lập cơ sở hạ tầng cho việc thực hiện thanh toán điện tử của các tổ chức cung ứng dịch vụ.

Dịch vụ này bao gồm ba loại dịch vụ sau: Dịch vụ chuyển mạch tài chính: “là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử để thực hiện các giao dịch thanh toán thông qua ATM, POS, Internet, điện thoại di động và các kênh giao dịch điện tử khác giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và/hoặc giữa các tổ chức cung ứng DVTGTT” theo Khoản 1 Điều 3 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT- NHNN. Dịch vụ này được hiểu đơn giản là việc di chuyển tiền hoặc thông tin tiền tệ giữa các bên tham gia trong một giao dịch. Tại Việt Nam, hiện nay chỉ có duy nhất một đơn vị thực hiện dịch vụ chuyển mạch tài chính là NAPAS (Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam). Dịch vụ bù trừ điện tử: “là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc tiếp nhận, đối chiếu dữ liệu thanh toán và tính toán kết quả số tiền phải thu, phải trả sau khi bù trừ giữa các thành viên tham gia để thực hiện việc quyết toán cho các bên có liên quan” theo Khoản 2 Điều 3 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT-NHNN.

Dịch vụ này giúp giảm thiểu rủi ro khi quản lý và giảm rủi ro trong các giao dịch, thường liên quan đến việc điều phối và so khớp các tài khoản thanh toán giữa các bên trong hệ thống giao dịch. 7 Dịch vụ cổng thanh toán điện tử: “là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc kết nối giữa các đơn vị chấp nhận thanh toán và ngân hàng nhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện thanh toán trong giao dịch thương mại điện tử, thanh toán hóa đơn điện tử và các dịch vụ thanh toán điện tử khác” theo Khoản 3 Điều 3 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT-NHNN. Cụ thể, dịch vụ này nhằm hỗ trợ người mua hàng có thể thanh toán bằng tài khoản ngân hàng, trong khi đó người bán nhận tiền và hạn chế những rủi ro trong giao dịch. Thứ hai, dịch vụ hỗ trợ thanh toán điện tử có thể được hiểu là việc các tổ chức cung ứng dịch vụ nhằm hỗ trợ việc thực hiện thanh toán điện tử bởi các phương tiện như thu hộ, chi hộ và các tiện ích khác nhằm nâng cao trải nghiệm của người sử dụng.

Dịch vụ này bao gồm ba dịch vụ dưới đây: Dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ: “là dịch vụ hỗ trợ các ngân hàng thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ cho khách hàng có tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng tại ngân hàng thông qua việc nhận, xử lý, gửi thông điệp dữ liệu điện tử và tính toán kết quả thu hộ, chi hộ; hủy việc thu hộ, chi hộ để quyết toán cho các bên có liên quan” theo Khoản 4 Điều 3 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT-NHNN. Đây là một hình thức mà NSDDV chấp nhận uỷ quyền cho bên cung ứng dịch vụ nhằm thu hộ và chi hộ những khoản tiền được xác định trong hợp đồng. Người sử dụng có thể sẽ giảm các rủi ro về lưu trữ, vận chuyển tiền, tiết kiệm thời gian và dễ dàng theo dõi các khoản thu chi một cách dễ dàng hơn. Dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử: “là dịch vụ hỗ trợ việc tiếp nhận, truyền dẫn và xử lý dữ liệu trong các giao dịch chuyển tiền điện tử của ngân hàng hoặc được ngân hàng ủy thác” theo Khoản 5 Điều 3 TT 39/2014/TT-NHNN sửa đổi bởi TT 23/2019/TT- NHNN.

Dịch vụ này cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc tiếp nhận, truyền dẫn và xử lý dữ liệu giao dịch chuyển tiền điện tử trong ngân hàng. Dịch vụ VĐT: “là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng DVTGTT tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính.), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá 8 trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ VĐT theo tỷ lệ 1:1”. Khái niệm dịch vụ thanh toán bằng hình thức ví điện tử Trong các hình thức của DVTGTT, “VĐT hay còn được gọi là ví kỹ thuật số cho phép người dùng thực hiện các giao dịch thương mại điện tử một cách nhanh chóng và an toàn” (Bantwa, 2021). Hiểu đơn giản nó là một loại chương trình hoặc một dịch vụ online cho phép người dùng thực hiện thanh toán các hóa đơn trực tuyến trên thiết bị có kết nối với internet mà không cần dùng tiền mặt hay thẻ ngân hàng, nhằm phục vụ nhu cầu của họ bằng cách đăng ký một tài khoản - một ví tiền cá nhân trên ứng dụng của nhà cung cấp.

Điều này góp phần đơn giản hoá, tiết kiệm thời gian cho việc thanh toán giữa người tiêu dùng và bên bán hàng hoá, dịch vụ. Ngoài ra, khi dùng VĐT, người sử dụng có thể liên kết với tài khoản ngân hàng cá nhân của mình, thực hiện chức năng chuyển tiền cho ngân hàng hay cho cá nhân khác sử dụng VĐT ngay trong ứng dụng. Nói cách khác, “nó cũng được coi là một loại hình ngân hàng trực tuyến với nhiều tính năng hơn” (Mohammad Salah Uddin, 2014). Điều này góp phần thể hiện sự tiện ích và liên kết giữa VĐT với ngân hàng.

Dưới góc độ pháp luật, trên thế giới có một số cách định nghĩa khái niệm VĐT như sau: Theo EFTA Hoa Kỳ - Đạo luật chuyển tiền của Hoa Kỳ (Electronic Funds Transfer Act) năm 1978, “VĐT như một “thiết bị hoặc quá trình được sử dụng để chuyển tiền, khoản thanh toán hoặc giá trị từ một tài khoản tài chính sang một nhà cung cấp hoặc một người dùng khác”. Còn theo Luật thanh toán điện tử Trung Quốc (China Electronic Payment Regulations), “VĐT như một dạng thanh toán điện tử được cấp phép bởi các cơ quan quản lý tài chính, được sử dụng để lưu trữ tiền mặt, chuyển tiền và thực hiện thanh toán trực tuyến”. Điểm chung của các khái niệm này đều chỉ ra VĐT là một phương tiện thanh toán điện tử được sử dụng để thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến. 9 Tại Việt Nam, hiện nay trong luật chưa có khái niệm cụ thể đối với cụm từ “VĐT".

Tuy nhiên, trong NĐ 80/2016/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ 101/2012/NĐ-CP về TTKDTM, tại Khoản 8 Điều 1 có quy định khái niệm “dịch vụ VĐT". “Dịch vụ VĐT là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng DVTGTT tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính.), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ VĐT theo tỷ lệ 1:1”. Như vậy, DVTTBHTVĐT là một DVTGTT, trong đó có các tổ chức cung ứng đóng vai trò là trung gian thanh toán, tạo lập một ứng dụng hoặc nền tảng trên internet, cho phép người sử dụng có thể lưu trữ tiền và giao dịch trên các thiết bị điện tử thông minh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn "Hoàn Thiện Pháp Luật về Ví Điện Tử tại Việt Nam - Nghiên Cứu & Giải Pháp" tập trung phân tích thực trạng pháp luật hiện hành liên quan đến ví điện tử tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế và bất cập. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của thị trường ví điện tử, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các tổ chức cung cấp dịch vụ. Luận văn này cung cấp cái nhìn tổng quan về bức tranh pháp lý của ví điện tử, hữu ích cho nhà làm luật, các doanh nghiệp Fintech, và cả người dùng quan tâm đến lĩnh vực thanh toán điện tử.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về chất lượng dịch vụ khách hàng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bạn có thể tham khảo tài liệu "Chất lượng chăm sóc khách hàng tại trung tâm dịch vụ khách hàng ngân hàng tmcp công thương việt nam" bằng cách nhấp vào đây. Việc này giúp bạn có thêm góc nhìn về trải nghiệm người dùng trong các dịch vụ tài chính số.