Chương 1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại và pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Kinh tế ngày càng phát triển và hội nhập, cùng với đó là sự biến động phức tạp của thị trường.
Theo đó là một loạt sự ra đời của các tổ chức tài chính. Trong đó, ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường như hiện nay. Theo quy định tại khoản 3 điều 4 Luật các TCTD 2010 sửa đổi bổ sung 2017 quy định thì : “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Trong những hoạt động kinh doanh mà ngân hàng thực hiện thì hoạt động cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh được thực hiện chủ yếu, thường xuyên. Trong đó cho vay là một trong những hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.
Theo quy định tại khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung 2017 thì: “ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng khi thực hiện tín dụng ngân hàng và cũng là nghiệp vụ mang về lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với ngân hàng. Rủi ro có thể xảy ra từ phía khách hàng hay chính cán bộ ngân hàng. Để đảm bảo sự an toàn và hiệu quả của hoạt động cho vay, phía các NHTM trước khi ra quyết định cho vay sẽ tiến hành các hoạt động thẩm định cho ai vay, người đi vay sử dụng khoản vay mục đích gì, tài sản đảm bảo cho khoản vay là gì,.
Các ngân hàng thương 7 mại luôn phải quan tâm tới rủi ro trong cho vay nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng. Trong các hoạt động cho vay của NHTM, cho vay khách hàng cá nhân được coi là một hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Khách hàng cá nhân là một cá nhân hay một nhóm người đã, đang và sẽ sử dụng dịch vụ và sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp với mục đích nhằm thỏa mãn cho nhu cầu, mong muốn của họ. Cho vay KHCN là hình thức cấp vốn của ngân hàng cho các cá nhân.
Sau khi nhận được yêu cầu vay vốn, ngân hàng sẽ ra quyết định cho vay một khoản tiền nhất định tới khách hàng với cam kết sẽ phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong thời gian xác định với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh. Một số đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân có thể kể đến: Thứ nhất, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn so với KHDN đặc biệt là cho vay tiêu dùng. Lãi suất áp dụng cho vay với KHCN thường cao hơn lãi suất khác của các khoản vay khác của NHTM. Thứ hai, số tiền mỗi khoản vay lớn nhưng quy mô lại nhỏ.
KHCN vay vốn ngân hàng thường có hai mục đích. Có thể là các cá nhân, hộ gia đình vay để phục vụ sản xuất kinh doanh. Hoặc có thể là các cá nhân vay để tiêu dùng trong cuộc sống như mua đất, xây nhà; mua đồ dùng thiết bị gia đình; cho con đi du học;. Với số lượng khoản vay lớn nhưng không phải khách hàng cứ đến ngân hàng là được vay bao nhiêu thỏa thích mà còn tùy thuộc vào khả năng thanh toán của khách hàng và các điều điều kiện vay vốn của ngân hàng.
Số lượng các khoản cá nhân nhiều như vậy là do số lượng khách hàng cá nhân đông đảo. Mặt khác là do nhu cầu vay vốn đa dạng của khách hàng cá nhân. Khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, người dân có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện cuộc sống tốt hơn. Thứ ba, hồ sơ vay vốn của KHCN thường đơn giản hơn nhiều so với hồ sơ cho vay KHDN.
Xuất phát từ thực tế KHCN không có hệ thống báo cáo tài chính phức 8 tạp như các KHDN. Vậy nên về phía NHTM khi đưa ra các yêu cầu, điều kiện vay vốn thường cao hơn, đặc biệt là về tài sản bảo đảm. Thứ tư về rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN. Đầu tiên là về rủi ro thông tin bất cân xứng, có thể xảy ra từ phía ngân hàng lẫn khách hàng.
Trước khi ra quyết định cho vay với một cá nhân, ngân hàng phải tiến hành hoạt động thẩm định. Như vậy các thông tin liên quan đến khách hàng là một yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay. Đối với KHCN, việc tìm hiểu thông tin về nhân thân, nguồn trả nợ, tài sản đảm bảo, mục đích sử vay vốn thường khó đầy đủ dẫn đến việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Nếu như trong trường hợp khách hàng cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, vậy sẽ dẫn đến rủi ro lớn về phía ngân hàng.
Về rủi ro tác nghiệp, với đặc điểm quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn nên để đáp ứng tối đa nhu cầu vay vốn của khách hàng cần đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của CBTD. Và như thế, để đẩy nhanh tiến độ công việc, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sở hở của quy định để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, làm giả hồ sơ. Cũng có thể họ thông đồng với khách hàng để gây ra thiệt hại cho ngân hàng. Trong trường hợp cho vay không có tài sản bảo đảm, rủi ro này có thể tăng lên khi ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp bảo đảm tài sản.
Và như vậy, nếu khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc có khả năng nhưng không có ý thức trả nợ trong khi việc quản lý thông tin về thay đổi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều khá khó thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ. Phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Hoạt động cho vay KHCN của NHTM được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại. Căn cứ vào thời hạn khoản vay 9 Cho vay ngắn hạn : đây là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung dài hạn : đây là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm thì được xếp vào danh mục khoản vay trung hạn và từ 5 năm trở nên là các khoản cho vay dài hạn. Các khoản này thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM, chiếm phần lớn lợi nhuận mà hoạt động cho vay đem lại. Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay Cho vay có tài sản bảo đảm : đây là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như cầm cố, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng.
Lý do là khách hàng phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng. Cho vay không có tài sản bảo đảm : đây là việc cho vay dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đi vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Loại cho vay này thông thường dành cho khách hàng có uy tín cao, khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh thường xuyên có lãi… Tuy nhiên, đây là hình thức cho vay mang nhiều rủi ro đối với các ngân hàng, ngân hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay. Căn cứ vào phương thức cho vay Cho vay trực tiếp từng lần : đây là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Cho vay theo hạn mức tín dụng : đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính, hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. 10 Cho vay thấu chi : đây là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định.
Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô. Cho vay trả góp : đây là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định.
Số tiền một lần trả được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ. Căn cứ vào mục đích vay vốn Cho vay tiêu dùng : cá nhân với mục đích giúp người tiêu dùng có tài chính để trang trải nhu cầu nhà ở, phương tiện đi lại cũng như mua sắm đồ dùng trong gia đình….