CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG, CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan các lý thuyết nền tảng Trong khi hiệu ứng phân bổ tài khoản là một trong những chủ đề cực kỳ quan trọng của lý thuyết tài chính hành vi, lý thuyết mâu thuẫn về nhận thức được đánh giá như là lý thuyết trung tâm của ngành tâm lý học xã hội và là cơ sở của nhiều công trình nghiên cứu về động cơ nội tại của con người. Vì vậy, việc từng bước tìm hiểu các lý thuyết này ở mức độ sâu hơn, cũng như những công trình khoa học liên quan, sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khái quát hơn về những vấn đề cần được làm sáng tỏ trong đề tài nghiên cứu này và đồng thời là cơ sở lý luận, xây dựng nên các giả thuyết nghiên cứu. Các nghiên cứu về hiệu ứng phân bổ tài khoản Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) của Kahmeman và Tversky (1979) đã chỉ ra rằng sở thích về rủi ro của con người là rất khác nhau khi họ phải đối mặt với các tình thế sinh lời hoặc thua lỗ khác nhau; cụ thể là, đứng trước viễn cảnh thu được một lợi ích nào đó, con người sẽ trở nên bảo thủ và có khuynh hướng sợ rủi ro và vì vậy khi cổ phiếu mà nhà đầu tư đang nắm giữ tăng giá cao hơn so với giá mua ban đầu (mức giá tham chiếu hay điểm tham chiếu) thì nhà đầu tư thường bán nhanh cổ phiếu nhằm hiện thực hóa lợi nhuận.
Ngược lại, khi rơi vào một tình thế có khả năng bị mất mát, con người sẽ trở nên liều lĩnh, sẵn sàng chấp nhận rủi ro và cố nắm giữ những cổ phiếu đang thua lỗ. Hành động này cho thấy sở thích về rủi ro của con người thay đổi tùy thuộc vào tình thế mà họ phải đối mặt. Trên cơ sở của lý thuyết triển vọng, hai nhà nghiên cứu này đã chỉ ra rằng cơ sở ra quyết định của con người trong rất nhiều trường hợp không dựa trên kết quả mà quyết định đó mang lại, mà là từ những suy tưởng vô căn cứ của chúng ta. Những suy tưởng này rất có thể không dựa trên bất kỳ một cơ sở nào cả nhưng lại ảnh hưởng đến việc ra quyết định, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 và từ đó dẫn đến những quyết định “bất hợp lý”.
Thí nghiệm sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề này: một nhà đầu tư có cơ hội mua một trong hai cổ phiếu A hay B như sau: cổ phiếu A tạo ra một khoản lợi nhuận là 10.000 đồng với xác suất là 50%; lợi nhuận của cổ phiếu B chỉ là 4.500 đồng nhưng xác suất là 100%. Lợi nhuận kỳ vọng của cổ phiếu A là 50%*10.000 đồng và của cổ phiếu B là 100%*4. Nếu xét từ góc độ giá trị kỳ vọng thì rõ ràng nhà đầu tư nên đầu tư vào cổ phiếu A, nhưng kết quả khảo sát cho thấy phần lớn nhà đầu tư chọn mua cổ phiếu B, có mức sinh lời thấp hơn và đồng thời ít rủi ro hơn. Trong trường hợp này các đối tượng khảo sát đã không ra quyết định dựa trên cơ sở giá trị kỳ vọng của lý thuyết xác suất.
Thí nghiệm thứ hai đó là, nhà đầu tư có hai lựa chọn: hoặc là chắc chắn bị mất 10.000 đồng hoặc là mất 20.000 đồng với xác suất 50%. Trong trường hợp này, phần lớn nhà đầu tư lựa chọn phương án thứ hai, chấp nhận khả năng bị mất 20.000 đồng với hi vọng không mất gì cả vì xác suất không bị mất đồng nào là 50%.