CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm về kê biên Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1999, thì "khiếu nại" được hiểu là: "thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y” [22, tr.
Thắc mắc, đề nghị thực chất cũng là sự phản ứng của người khiếu nại đối với kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y. Tuy nhiên, quan niệm này chưa thật đầy đủ, vì người ta thắc mắc, đề nghị xem xét lại không chỉ đối với kết luận, quyết định mà còn đối với hành vi của những người có thẩm quyền, các cơ quan tổ chức. Như vậy, tuy có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng có thể thấy về cơ bản, khiếu nại có thể hiểu là một hình thức phản ứng tự vệ của công dân, cơ quan, tổ chức trước các quyết định, hành vi của các cơ quan, tổ chức, của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó mà theo họ là xâm phạm tới quyền, lợi ích của mình. Khái niệm về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Kê biên: Theo từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, thì “kê” được hiểu là viết lần lượt vào từng tên, từng thứ một [41, tr.224], còn “biên” được hiểu là ghi chép, viết vào sổ, biên tên vào sổ [41, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Thời Đại năm 2014, thì “kê” được hiểu là đặt vào chỗ đó [4, tr.235], còn “biên” được hiểu là chép, ghi vào sổ [42, 6 tr. Như vậy, có thể hiểu “kê biên” là tính toán và ghi chép lại theo một thứ tự nhất định. Theo Điều 105 Bộ Luật dân sự năm 2015 thì khái niệm về tài sản: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” [33, tr. Kê biên tài sản trong thi hành án là một trong sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án được ghi nhận tại Điều 71 Luật THADS sẽ bảo đảm thực hiện trách nhiệm dân sự hay nghĩa vụ dân sự của người phải thi hành án, theo bản án, quyết định của Tòa án mà Chấp hành viên thực hiện hành vi kiểm kê hiện trạng tài sản, ghi chép một cách trình tự và hạn chế hoặc cấm chủ sở hữu, sử dụng không được không được thực hiện các hành vi tẩu tán, phá hủy hay các hành vi khác làm thay đổi hiện trạng đối với tài sản đó để đảm bảo cho việc thi hành án. Từ sự trình bày nêu trên, khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự được hiểu là việc người được thi hành án, người phải thi hành án được gọi là (đương sự) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phản ứng cho rằng hành vi của Chấp hành viên đã kê biên tài sản làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Khái niệm giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Đi liền với quyền KN của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là nghĩa vụ giải quyết KN của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền.
Làm tốt công tác giải quyết KN trong THADS không những bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động THADS, giảm vụ việc THA tồn đọng, bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành trên thực 7 tế, mà qua đó còn tạo niềm tin của xã hội đối với hoạt động THADS, niềm tin vào những phán quyết của Tòa án, văn bản luật và công lý. Giải quyết KN về kê biên tài sản trong THADS cũng mang đầy đủ bản chất, nội dung, mục đích, ý nghĩa của hoạt động giải quyết KN nói chung. Về bản chất, đó cũng là việc cá nhân, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm làm rõ việc KN có đúng hay sai. Cụ thể là xác định xem quyết định của Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc hành vi CHV thực hiện việc kê biên tài sản có trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người KN hay không.
Tính chất, mức độ, hậu quả của sự xâm phạm đến mức nào. Từ đó, đưa ra kết luận về từng vấn đề liên quan, làm cơ sở cho việc ban hành quyết định giải quyết KN. Trong quá trình giải quyết KN, cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết KN một mặt sử dụng những tài liệu, bằng chứng tiếp nhận từ người KN, mặt khác có thể tổ chức xác minh, thu thập thêm thông tin, tài liệu để làm căn cứ cho việc kết luận và ra quyết định giải quyết KN một cách chính xác. Từ đó, kết luận nội dung KN là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.
Trên cơ sở ấy ra quyết định giải quyết KN theo hướng giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị KN hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị KN; đồng thời quyết định về nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra. Hoạt động giải quyết KN nói trên được tiến hành theo các quy định của pháp luật, trước hết là pháp luật về giải quyết KN trong THADS, ngoài ra còn phải tuân theo các quy định của pháp luật trong từng chuyên ngành. Chẳng hạn khi giải quyết KN về kê biên quyền sử dụng đất hay về kê biên tài sản là phần vốn gớp thì ngoài việc tuân theo các quy định trong giải quyết KN về THADS, người giải quyết KN còn phải tuân theo các quy định của pháp luật về đất đai, Luật doanh nghiệp. 8 Như vậy, từ những phân tích trên có thể hiểu: Giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS là việc cơ quan có thẩm quyền thụ lý, xác minh và ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại của người khiếu nại khi họ cho rằng quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của thủ trưởng cơ quan thi hành án là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của mình hoặc hành vi của CHV đã thực hiện việc kê biên tài sản là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của mình.
Nội dung giải quyết khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 1. Người có quyền khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Theo quy định tại Khoản 1 Điều 140 Luật THADS năm 2014 quy định thì người có quyền KN về THADS bao gồm: Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, “đương sự” bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án. Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành.
Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành (Khoản 1,2,3 Điều 3 Luật THADS 2014) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự (Khoản 4 Điều 3 Luật THADS năm 2014). Theo quy định của Luật KN năm 2011, người có quyền KN là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính, một quyết định kỷ luật cán bộ, 9 công chức hoặc người đại diện hợp pháp của những người này khi họ thực hiện quyền KN. Có nghĩa là, người có quyền KN phải là người bị tác động trực tiếp bởi chính quyết định hoặc hành vi đó [32, tr. Đối chiếu với các quy định trên thì chủ thể thực hiện quyền khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Đối tượng khiếu nại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Theo Luật KN năm 2011 thì đối tượng KN là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người KN. Theo Luật THADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì đối tượng KN về THADS là các quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc hành vi của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên. Như vậy, đối tượng khiếu nại về kê biên tài sản trong THADS chính là Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và hành vi của CHV thực hiện việc kê biên tài sản của đương sự. Thứ nhất: Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của thủ trưởng cơ quan THADS Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ trưởng cơ quan THADS như: Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện giải quyết về hành vi kê biên của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý; Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh giải quyết về hành vi kê biên của CHV thuộc quyền quản lý và hành vi kê biên của CHV là Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện; Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS- Bộ Tư pháp giải quyết về hành vi kê biên của CHV là Thủ 10 trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh đều là đối tượng KN về kê biên tài sản trong THADS.
Khi nhận được một trong các quyết định nói trên nếu không đồng ý thì người có quyền KN được thực hiện quyền KN.