CHƯƠNG 1 KIỂM SÁT VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN LÀ NHÀ Ở ĐỂ KÊ BIÊN, XỬ LÝ 1. Kiểm sát việc xác định tài sản của người phải thi hành án là nhà ở có giấy chứng nhận quyền sở hữu để kê biên, xử lý Thi hành án dân sự là hoạt động đưa bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trên thực tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và các chủ thể có liên quan. Để bảo đảm cho hoạt động thi hành án dân sự tuân thủ đúng các nguyên tắc, trình tự, thủ tục pháp luật quy định, bản án, quyết định được thi hành kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật, Nhà nước quy định cơ chế kiểm tra, giám sát các hoạt động thi hành án dân sự từ bên ngoài. Mặc dù Luật thi hành án dân sự quy định cơ quan thi hành án dân sự cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, chỉ đạo việc thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới, nhằm kiểm tra giám sát mang tính nội bộ nhưng việc kiểm tra, giám sát từ bên ngoài là rất cần thiết.
Nhà nước Việt Nam giao chức năng kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động thi hành án cho cơ quan Viện kiểm sát nhân dân. Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự và các chủ thể khác nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật. Kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự quy định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp, Điều 28 Luật TCVKS, khoản 2 Điều 12 Luật THADS và Quy chế công tác Kiểm sát thi hành án dân sự kèm theo Quyết định số 810/QĐ-VKSTC-V11 ngày 20 tháng 12 năm 2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành quy chế công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong thi hành án dân sự nhằm đảm bảo cho toàn bộ hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự được tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định, đảm bảo cho bản án, quyết định được thi hành đầy đủ, kịp thời, đúng pháp luật.
Kiểm sát việc xác định tài sản của người phải thi hành án là nhà ở để kê biên, xử lý là tổng hợp những hành vi mà Viện kiểm sát phải thực hiện, nhằm 10 kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự, CHV, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án và của các cơ quan có thẩm quyền, trong đó đối tượng xử lý là nhà ở. Theo Điều 14 Quy chế, khi kiểm sát việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án là nhà ở để kê biên, xử lý, cần kiểm sát các nội dung cơ bản: Thẩm quyền, căn cứ, đối tượng, thời hạn, thủ tục áp dụng; việc xác định, phân chia, xử lý tài sản chung, tài sản có tranh chấp để thi hành án; thẩm định giá, bán tài sản. Kiểm sát việc xác định tài sản của người phải thi hành án là nhà ở để kê biên, xử lý có thể thông qua biện pháp cử KSV trực tiếp tham gia và kiểm sát việc cưỡng chế hoặc kiểm sát hồ sơ, tài liệu việc thi hành án có cưỡng chế. Khi kiểm sát việc xác định tài sản của người phải thi hành án là nhà ở để kê biên, xử lý, phải kiểm sát tài sản phải đăng ký quyền sở hữu giao, bán tài sản đã kê biên để thi hành án; nhà ở thuộc diện không được kê biên, xử lý và các quy định khác.
Kiểm sát việc xác định tài sản của người phải thi hành án là nhà ở để kê biên, xử lý quy định tại Điều 95 Luật THADS, bao gồm kê biên đối với nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án; nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác và nhà ở đang cho thuê, cho ở nhờ. Thực tiễn, việc xác định tài sản của người phải thi hành án là nhà ở để kê biên, xử lý còn nhiều khó khăn, bất cập. Thứ nhất, về quy định nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và người phải thi hành án có tài sản nhưng không đủ để thi hành án. Qua kiểm sát thi hành án dân sự, việc hiểu và thi hành về nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và người phải thi hành án có tài sản nhưng không đủ để thi hành án vẫn còn quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tư pháp.
Theo khoản 1 Điều 95 LTHADS, việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện khi xác định người này không còn tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên. Quy định này là phù hợp, mang tính nhân văn, đảm bảo 11 việc thi hành các nghĩa vụ nhưng cũng vừa đảm bảo điều kiện sống cơ bản của người phải thi hành án. Tuy nhiên, qua kiểm sát, cách hiểu về “nơi ở duy nhất” còn có nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nơi ở duy nhất được hiểu là tại thời điểm xác minh điều kiện thi hành án, người phải thi hành án có duy nhất một căn nhà làm nơi sinh sống và không có nhà người thân để sống nương nhờ.
Quan điểm thứ hai cho rằng, nơi ở duy nhất được hiểu là tại thời điểm xác minh điều kiện thi hành án, có đủ cơ sở chứng minh người phải thi hành án chỉ sở hữu một căn nhà là bất động sản duy nhất, không có bất động sản nào khác, bao gồm cả bất động sản đang cho thuê, cho ở nhờ1. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ phù hợp và nơi ở duy nhất có thể có quyền sử dụng đất. Tương tự, quy định người phải thi hành án có tài sản nhưng không đủ để thi hành án vẫn chưa có quy định cụ thể. Người phải thi hành án có tài sản đến mức nào thì được công nhận là đủ hay không đủ để thi hành án.
Ví dụ: Việc thi hành án tại tỉnh Phú Yên2. Ông Đinh Thiên T là CHV đội Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên, được phân công thi hành Quyết định số 01/DSST ngày 04/01/2001 của TAND thị xã T về việc buộc ông Nguyễn Đức T trả nợ cho ngân hàng số tiền 12. Ngày 10/3/2003, ông Đinh Thiên T lập khống biên bản xác minh tài sản của ông Nguyễn Đức T bao gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 05m x 12m; 01 bộ bàn ghế salon; 01 chiếc xe biển kiểm soát 78F5-4977. Biên bản xác minh trên không đúng, không đầy đủ vì chiếc xe biển kiểm soát 78F5-4977 là tài sản thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Mỹ K (con gái ông Nguyễn Đức T); ngôi nhà không phải là tài sản riêng của ông Nguyễn Đức T; và tại thời điểm THA, ông Nguyễn Đức T đang đứng tên sở hữu chiếc xe biển kiểm soát 78F3-7633, có giá trị lúc mua là 25.
Ngày 03/7/2003, ông Đinh Thiên T ký Quyết định số 07/THA cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, đến ngày 30/7/2003 thì chủ trì lập biên bản cưỡng chế và biên bản định giá tài sản mà theo đó ông Đinh Thiên T với vai trò 1 https://thads.vn/dongthap/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=23, truy cập lúc 22h ngày 1. 2 Bản án hình sự phúc thẩm số 228/2017/HS-PT ngày 11/9/2017 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng. 12 chủ tịch hội đồng đã chỉ đạo kê biên và định giá ngôi nhà cấp 4 nêu trên với giá trị 32.000 đồng thấp hơn thực tế. Sau đó, ông Đinh Thiên T dàn xếp việc bán đấu giá tài sản để chuộc lợi cá nhân.
Hành vi của ông T bị truy tố và xét xử về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Ở tình huống trên, ngôi nhà bị kê biên là nơi ở duy nhất của ông Nguyễn Đức T, người phải thi hành án theo Quyết định số 01/DSST ngày 04/01/2001 của TAND thị xã T đã có hiệu lực pháp luật; ngoài căn nhà này thì ông T còn có các tài sản khác bao gồm: bộ bàn ghế salon; chiếc xe biển kiểm soát 78F3-7633, có giá trị lúc mua là 25. Căn cứ khoản 1 Điều 95 LTHADS, nhà ở nêu trên được kê biên khi các tài sản khác là bộ bàn ghế, chiếc xe không đủ để thi hành án. Việc thi hành án này có hai quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc CHV tiến hành kê biên, xử lý đối với bộ bàn ghế salon và chiếc xe trước khi hoàn tất việc đấu giá, trừ đi các chi phí tố tụng mà số tiền còn lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì mới tiến hành thủ tục kê biên, xử lý nhà ở. Để thực hiện thủ tục này, CHV ban hành ít nhất hai quyết định kê biên, xử lý tài sản để thi hành án, trong đó, quyết định thứ nhất kê biên, xử lý đối với bộ bàn ghế và chiếc xe, quyết định thứ hai được ban hành sau khi bán các tài sản được kê biên tại quyết định thứ nhất nhưng không đủ để thi hành án. Quan điểm thứ hai cho rằng, CHV ban hành 01 quyết định kê biên, xử lý tài sản đối với toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án là ông Nguyễn Đức T. Khi thực hiện thủ tục định giá các tài sản này, nếu giá trị của bộ bàn ghế salon và chiếc xe máy thấp hơn khoản nợ 12.600 đồng thì tiến hành bán đấu giá đồng thời toàn bộ tài sản trên.
Bởi giá trị được định giá là căn cứ để thỏa mãn và xác định yếu tố không đủ để thi hành án. Để thực hiện thủ tục này, CHV cần lập biên bản ước tính giá trị tài sản dựa trên đánh giá của người có thẩm quyền, có chuyên môn thực hiện; dựa trên giá trị được ước tính này để xác định là đủ hay không3. Đây là trình tự, thủ tục mà ông Đinh Thiên T đã thực hiện. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai.
Một, theo cách hiểu của quan điểm thứ nhất là máy móc. Việc xác định tài sản phải dựa trên cơ sở, phương pháp chứng minh một cách khoa học và hợp lý.