CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai 1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai Áp dụng pháp luật vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là giai đoạn đặc thù của sự thực hiện pháp luật. Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho những quy đinh pháp luật được thực hiện trong thực tế đời sống.
Thiếu sự đảm bảo này thì trong nhiều trường hợp các quy phạm pháp luật không thể phát huy được hiệu lực trong hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật.Thực tế đã cho thấy có những trường hợp nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì nhiều quy định pháp luật sẽ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Theo lý luận chung đã được giới khoa học pháp lý thừa nhận, thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức sau: Tuân thủ pháp luật; Chấp hành pháp luật; Sử dụng pháp luật và Áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức cơ bản của thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật, một số tổ chức xã hội cũng có thể được thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật khi nhà nước trao quyền.
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật, nếu như tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức có tính phổ biến mà các chủ thể pháp luật có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật mang tính đặc thù riêng, nhất thiết phải có sự tham gia trực tiếp của cơ quan nhà nước hay 9 của cán bộ, công chức có thẩm quyền. Do đó hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực của cơ quan nhà nước nói chung và của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nói riêng. Biểu hiện rõ nét nhất là các chủ thể pháp luật khi thực hiện các quy định của pháp luật luôn có sự can thiệp của Nhà nước hay của cán bộ, công chức có thẩm quyền, đảm bảo cho các quy phạm pháp luật được thực hiện triệt để, hiệu lực và hiệu quả khi tác động vào cuộc sống, vào các quan hệ xã hội. Hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền từ Chính phủ đến Uỷ ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong các trường hợp sau: Thứ nhất, khi cần truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm pháp luật hoặc cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với tổ chức hay cá nhân nào đó.
Ví dụ: Một chủ thể pháp luật thực hiện hành vi tội phạm thì không phải ngay sau đó trách nhiệm hình sự tự động phát sinh và người vi phạm tự giác chấp hành hình phạt tương ứng. Vì vậy cần có hoạt động của Tòa án và các cơ quan bảo vệ pháp luật có liên quan nhằm điều tra, đối với pháp luật để xét xử, ra bản án trong đó ấn định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và buộc họ phải chấp hành bản án đó. Thứ hai, khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước;Ví dụ tại điều 55 của Hiến pháp 1992 quy định “ lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân’’ Những quan hệ pháp luật lao động với những quyền và nghĩa vụ lao động cụ thể giữa một công dân với một cơ quan, tổ chức nhà nước chỉ phát sinh khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyển dụng người công dân đó vào làm việc. Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà giữa họ không thể tự điều hoà, giải quyết với nhau được.
Trong trường hợp này quan hệ pháp luật đã phát 10 sinh, những quyền và nghĩa vụ của các bên không được thực hiện và có sự tranh chấp. Thứ tư, áp dụng pháp luật được thực hiện trong một số quan hệ pháp luật quan trọng mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế nào đó. Từ phân tích trên ta có thể định nghĩa: Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân tổ chức cụ thể. Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành.
Mỗi loại cơ quan nhà nước trong phạm vi thẩm quyền được giao thực hiện một số những hoạt động áp dụng pháp luật nhất định. Trong quá trình áp dụng pháp luật mọi khía cạnh mọi tình tiết đều phải được xem xét cẩn trọng và dựa trên các cơ sở các quy định yêu cầu của quy phạm pháp luật để ra các quy định cụ thể. Như vậy pháp luật là cơ sở để xuất phát điểm để cơ quan nhà nước cơ quyền áp dụng pháp luật thực hiện chức năng của mình. Có một số trường hợp cá biệt khi nhà nước trao quyền một số tổ chức xã hội cũng có thể tiến hành áp dụng pháp luật.
Theo Luật đất đai 2013, “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”[44, tr. Do đó, với tư cách đại diện chủ sở hữu, Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất và quy định cụ thể những quyền cũng như nghĩa vụ pháp lý đối với người sử dụng đất. “người sử dụng đất” qui định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất bao gồm: Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị 11 xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (thường gọi là tổ chức sử dụng đất); Hộ gia đình, cá nhân trong nước; Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ; Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy Ở Việt Nam, khiếu nại là một khái niệm được đề cập nhiều, sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, không giới hạn trong một lĩnh vực nào mà bao trùm tất cả các phạm vi chủ yếu của đời sống xã hội và trong hoạt động quản lý nhà nước. Tuỳ thuộc mục đích và góc độ nghiên cứu mà khiếu nại được hiểu theo những nghĩa khác nhau.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, khiếu nại được hiểu là “thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y” [63, tr. 12 Về phương diện xã hội, khiếu nại là việc công dân ta thán, phàn nàn, phản đối, không chấp nhận một việc làm (hành vi) hoặc một quyết định của một tổ chức làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích của họ. Đây là sự phản ứng tự nhiên của mỗi công dân trong cộng đồng, xã hội. Dưới góc độ lý luận dùng quyền để bảo vệ quyền, người ta quan niệm khiếu nại là một trong những phương thức bảo vệ quyền chủ thể: “Khiếu nại được sử dụng khi quyền chủ thể của bản thân công dân khiếu nại hoặc của người do mình bảo hộ bị vi phạm do quyết định hoặc hành vi trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước hoặc nhân viên nhà nước” [12, tr.
Về phương diện chính trị- pháp lý, khiếu nại là quyền cơ bản của công dân trong mỗi nhà nước, được pháp luật của nhà nước đó quy định và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Khiếu nại có thể được hiểu là ý kiến phản hồi của công dân đối với những hoạt động của bộ máy nhà nước trong quá trình quản lý xã hội mà họ cho rằng hoạt động đó đã tác động, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Theo cuốn thuật ngữ pháp lý phổ thông thì khiếu nại là “việc yêu cầu cơ quan nhà nước, trước tiên là tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc phạm quyền hoặc lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác” [1, tr. Như vậy, khiếu nại theo nghĩa chung là việc cá nhân hay tổ chức yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sửa chữa một việc làm mà họ cho là không đúng đắn, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không đúng gây ra.