CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ I. Khái niệm và vai trò của xuất nhập khẩu. Khái niệm Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực phong phú và đa dạng của nền kinh tế quốc dân, thể hiện phần tham gia của nền kinh tế cảu mỗi quốc gia vào sự phân công lao động quốc tế, sự trao đổi mậu dịch quốc tế. Lĩnh vực kinh tế đối ngoại được hình thành trên cơ sở sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại.
Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại là một bộ phận của các mối quan hệ kinh tế quốc tế với chủ thể là một quốc gia nhất dịnh trong mối quan hệ với các quốc gia còn lại khác và các tổ chức kinh tế quốc tế. Văn kiện hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá 7 đã chỉ rõ : ” mở rông kinh tế đối ngoại phải nhằm chiến lược phát triển kinh tế, từng bước đổi mới cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển mạnh ”. Kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Không có một quốc gia nào trên thế giới có thể có thể tồn tại riêng biệt mà không hề ảnh hưởng đến quốc gia khác đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế.
Bởi vậy hình thành nên các quan hệ buôn bán tiền tệ hàng hoá giữa các nước vì vậy quan hệ giữa các nước trong lĩnh vực kinh tế mang tính khách quan. Mỗi một quốc gia có một vị trí địa lý khác nhau, có những yếu tố khó khăn và thuận lợi riêng và mỗi khu vực có sự phát triển về kinh tế là khác nhau.Vì vậy dẫn đến trao đổi hàng hoá đề thoả mãn nhu cầu của nhau tùy thuộc vào điểm mạnh của từng quốc gia. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam việc mở rộng quan hệ kinh tế ra bên ngoài có lợi trong việc tiếp nhận kỹ thuật mới, tiên tiến làm cho năng suất lao động tăng. Việc mở rộng quan hệ quốc tế giúp cho tập trung phát triển thế mạnh của đất nước.
2 Vì vậy, việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế có ý nghĩa thực sự quan trọng đối với mọi quốc gia đặc biệt là nước ta nơi nền kinh tế còn chậm phát triển. Đảng và nhà nước ta đã đề ra biện pháp nhằm “ mở cửa kinh tế “đưa nền kinh tế Việt Nam tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế. Kinh tế đối ngoại là một bộ phận cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia và hoạt động xuất nhập khẩu là xương sống vì nó là yếu tố chủ động nhất trong các lĩnh vực kinh tế đối ngoại, XNK chịu tác động trức tiếp và sâu sắc nhất của các qui luật của thị trường quốc tế, nó có thể vượt qua trợ ngại phi kinh tế khác ( cấm vận, chính sách phong toả…) Hoạt động XNK có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến hoạt động đầu tư thể hiện ở chỗ : XNK là tiền đề và nơi thể hiện kết quả đạt được của hoạt động đầu tư. Hoạt động XNK có tác động rộng lớn, sâu sắc đến khoa học công nghệ, thể hiện thông qua sự chuyên môn hoá và hợp tác của các công ty ở những nước khác nhau và ngược lại nhờ hoạt động XNK mà quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá được phát triển một cách thuận lợi.
XNK thường xuyên mang lại hiệu quả tích cực cho sự phát triển kinh tế quốc dân nếu việc tổ chức XNK phù hợp với đòi hỏi của các quy luật khách quan dựa trên cơ sở lợi thế tương đối và tuyệt đối của các yếu tố cấu thành sản phẩm có liên quan đến XNK. Đối với nước ta, XNK nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung sẽ góp phần to lớn trong việc tạo vốn và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, tạo điều kiện tốt để ta đổi mới cơ cấu sản xuất trong nước thúc dẩy nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.Mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Xuất khẩu và nhập khẩu là hai bộ phận cấu thành của ngoại thương, chúng liên quan một mật thiết đến nhau và thúc đẩy nhau, chúng vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau. 3 Xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt động cần thiết của bất kỳ một nền kinh tế nào xây dựng theo mô hình kinh tế mở vì nó tác động đến cả tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế quốc dân một cách hài hoà.
Kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu để xây dựng, phát triển tạo ra thêm nhiều nguồn hàng xuất khẩu. Lấy hoạt động xuất khẩu bù lỗ cho hoạt động nhập khẩu và ngược lại lấy hoạt động nhập khẩu bù lỗ cho hoạt động xuất khẩu.Sự cần thiết phải mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả của hoạt động XNK * Vào những năm của thập niên 60 có rất nhiều quốc gia đã sử dụng chính sách “đóng cửa “để áp dụng vào nước mình. Chính sách “đóng cửa có những đặc trưng sau : - Tuy tốc độ phát triển có chậm nhưng vững chắc và ổn định. - Sự hoạt động của nền kinh tế ít chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới - Mọi tiềm lực của đất nước không cần phải cần được khai thác và huy động một cách cao độ.
- Sự độc lập tương đối về kinh tế cho phép các nước thi hành chính sách “đóng cửa kinh tế “ thực hiện quyền tự quyết định về chính trị. * Nguyên nhân thất bại của chiến lược”đóng cửa “ : - Không khai thách được ”lợi thế so sánh “ vì không mở cửa trao đổi hàng hoá với nước khác. - Các nước đang phát triển và chậm phát triển vốn là các nước nghèo nên trình độ sản xuất, phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp, nên khi chính sách “đóng cửa “ hạn chế khả năng tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ thuật mới áp dụng. - Để có thể nhập khẩu những tư liệu sản xuất phải có một nguồn vốn lớn để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu, mà các nước chậm và đang phát triển không có khối lượng về tiền lớn như vậy nên phải dựa vào nguồn vốn từ nước ngoài.
4 - Một phần lớn các nước thị trường nội địa quá chật hẹp và nhỏ bé không dủ khả năng cho sự phát triển một nền công nghiệp hiện đại với qui mô lớn nên khả năng thu hút lao động kém dẫn đến nạn thất nghiệp tăng. - Việc nhập vật tư từ ngoài vào là chủ yếu để thoả mãn nhu cầu sử dụng trong nước khiến sản xuất đắt đỏ, kém hiệu quả và tạo ra hiều quả làm ngược lại so với mục đích tiết kiệm ngoại tệ. Vì những nguyên nhân trên đây mà chính sách “đóng cửa “được thay bằng chính sách “ mở cửa “ kinh tế. Nhờ đẩy nhanh xuất khẩu mà tăng thu nhập ngoại tệ.
Tăng khả năng nhập khẩu máy móc trang thiết bị và công nghệ tiên tiến. Cải thiện tình hình mất cân đối về thu chi của ngân sách nhà nước. Tăng khả năng thu hút lao động. Chất lượng hàng hoá tăng.
Tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, có lợi thế của một đất nước. * Những hạn chế của chính sách “ mở cửa “. - Lệ thuộc vào nước khác về kinh tế. - Tập trung chiến lược “ hướng về xuất khẩu” làm cho nền kinh tế phát triển lệch mất cân đối.
- Ưu tiên ngoại thương cùng sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường làm xảy ra sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư. Đối với các nước phát triển thì mở rộng quan hệ kinh tế ra ngoài giúp cho việc bành trướng sức mạnh kinh tế của mình như tìm hiểu thị trường để tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu hàng hoá và đầu tư đem lại hiệu quả cao cũng như có lợi nhuận cao, giảm được chi phí về nhân công, tài nguyên rẻ của các nước đang phát triển. Nhìn chung tốc độ XNK của thế giới gia tăng nhanh tốc độ tăng của GDP. Những nước có tốc độ thương mại cao là do tăng cường chính sách hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn dầu tư nước ngoài.
5 Một số nước gặp khó khăn trong buôn bán quốc tế là do một mặt ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế chung trên toàn cầu, mặt khác bản thân các nước này gặp khủng hoảng về kinh tế, chính trị, nội chiến, tôn giáo. Đặc điểm của xuất khẩu hàng nông sản. Một số lý luận về xuất khẩu nông sản. Trong quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế, hàng nông sản Việt Nam đã có mặt trên nhiều nước và đã góp phần thu ngoại tệ để phát triển đất nước.
Lợi thế phát triển hàng hóa nông sản xuất khẩu của ta có nhiều nhưng cũng không ít khí khăn, bất lợi - mà điều bất lợi đó chúng ta có thể khắc phục được nếu như chúng ta có biện pháp thích hợp và kiên quyết. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tùy thuộc vào nhau giữa các quốc gia. Sự độc lập phát triển của mỗi quốc gia là sự phụ thuộc của quốc gia đó vào thế giới phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó. Hoạt động xuất nhập khẩu còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương, trong dó hàng hoá và dịch vụ bán cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ tăng tích luỹ ngân sách nhà nước, đồng thời phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống cho nhân dân. Hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với việc buôn bán trong nước vì hoạt động này diễn ra trên một thị trường rộng lớn và nhà xuất khẩu phải có những hiểu biết nhất định về thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến việc xuất khẩu của doanh nghiêp như văn hoá, thói quen, cách nghĩ, lối sống.Có nhiều hình thức hợp tác trong kĩnh vực kinh tế quốc tế nhưng có thể chia thành các hoạt động sau: - Thương mại quốc tế. 6 - Đầu tư quốc tế. - Nhập khẩu sức lao động.
- Hợp tác trong lĩnh vực tiền tệ.