Chương 1: Tổng quan nghiên cứu giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng dệt may sang thị trƣờng Hàn Quốc Chương 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng áp dụng các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng dệt may sang thị trƣờng Hàn Quốc của công ty May Xuất khẩu Đại Đồng. Chương 4: Định hƣớng phát triển và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng dệt may sang thị trƣờng Hàn Quốc của công ty May Xuất khẩu Đại Đồng 6 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hóa 2. Khái niệm và vai trò xuất khẩu Theo Giáo trình Kinh doanh quốc tế trƣờng Đại học Thƣơng Mại (2021), đồng chủ biên PGS.TS Doãn Kế Bôn - TS.
Lê Thị Việt Nga, khái niệm và vai trò của xuất khẩu đƣợc thể hiện nhƣ sau: - Khái niệm xuất khẩu hàng hóa: "Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đưa ra khỏi lãnh thổ một quốc gia hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ quốc gia đó nơi được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” - Vai trò của xuất khẩu hàng hóa: Xuất khẩu là loại hình kinh doanh quốc tế cơ bản đƣợc các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mở rộng thị trƣờng tiêu thụ ra bên ngoài thị trƣờng nội địa, tăng doanh số bán hàng, đồng thời khai thác đƣợc tính kinh tế theo quy mô khi thị trƣờng đƣợc mở rộng. Lựa chọn phƣơng thức này giúp doanh nghiệp có thể bƣớc đầu tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế bằng việc đƣa hàng hóa, sản phẩm của mình ra thị trƣờng nƣớc ngoài nhƣng không phải đối diện với nhiều rủi ro và đầu tƣ chi phí ban đầu lớn 2. Phân loại xuất khẩu hàng hóa Theo Giáo trình Kinh doanh quốc tế trƣờng Đại học Thƣơng Mại (2021), đồng chủ biên PGS.TS Doãn Kế Bôn - TS. Lê Thị Việt Nga, xuất khẩu hàng hóa đƣợc chia thành 2 dạng cơ bản nhƣ sau: 2.
Xuất khẩu trực tiếp - Khái niệm: “Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động theo đó doanh nghiệp sản xuất hoặc thu mua hàng hóa ở thị trường trong nước rồi trực tiếp bán cho người mua ở thị trường nước ngoài mà không sử dụng các trung gian thương mại.” - Đặc điểm: + Doanh nghiệp sẽ tự mình thực hiện tất cả công việc liên quan đến xuất khẩu. Vì thế, doanh nghiệp có thể trực tiếp kiểm soát hoạt động phân phối, xây dựng nhãn hiệu, cũng nhƣ định giá các sản phẩm do mình cung cấp + Xuất khẩu trực tiếp giúp doanh nghiệp tham gia vào các khâu trong hoạt động xuất khẩu của mình sang thị trƣờng nƣớc ngoài, bởi vậy doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thị trƣờng và khách hàng để hiểu rõ nhu cầu và thị hiếu thị trƣờng của họ cũng nhƣ nhanh chóng nắm bắt đƣợc những cơ hội mới 7 - Doanh nghiệp phù hợp: Doanh nghiệp lựa chọn xuất khẩu trực tiếp phải có đủ mạnh tiềm lực về vốn, nhân sự, đòi hỏi doanh nghiệp phải có kiến thức nhất định về thị trƣờng nƣớc ngoài mà doanh nghiệp tiếp cận. cũng nhƣ khả năng vƣợt qua những trở ngại trong kinh doanh ở thị trƣờng nƣớc ngoài. Xuất khẩu gián tiếp - Khái niệm: “Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu hàng hóa khi nhà xuất khẩu không làm việc trực tiếp với người nhập khẩu ở nước ngoài mà sẽ thông qua một bên thứ ba thường được gọi là trung gian thương mại để thực hiện các phần công việc liên quan.” - Đặc điểm: Để bán và phân phối các sản phẩm của mình ở thị trƣờng nƣớc ngoài, ngƣời sản xuất sử dụng các bên trung gian thƣơng mại là những ngƣời có chức năng xuất khẩu thực hiện cho mình.
Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sản xuất hay nhà xuất khẩu trong nƣớc sẽ không thực sự tham gia vào hoạt động tiếp thị và bán hàng ở thị trƣờng nƣớc ngoài. Khi lựa chọn phƣơng thức xuất khẩu gián tiếp này, doanh nghiệp cần nhận thức đƣợc phƣơng thức này cũng tiềm ẩn một số rủi ro nhất định. + Cụ thể, doanh nghiệp sẽ không thể bám sát thị trƣờng và kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của mình ở thị trƣờng nƣớc ngoài. + Kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm ở thị trƣờng nƣớc ngoài có thể không phù hợp với thói quen mua sắm và tiêu dùng của ngƣời dân bản địa dẫn đến việc tiêu thụ hàng hóa không đạt đƣợc kỳ vọng đặt ra.
+ Cách thức mà đội ngũ nhân viên của các công ty trung gian cung cấp hàng hóa và dịch vụ với chất lƣợng không đảm bảo gây tổn hại đến danh tiếng và hình ảnh của doanh nghiệp cũng nhƣ của sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp trên thị trƣờng. Việc không bám sát với thị trƣờng còn có thể khiến doanh nghiệp không nắm đƣợc rõ - Doanh nghiệp phù hợp: + Trong thực tế, phƣơng thức xuất khẩu gián tiếp thƣờng đƣợc lựa chọn bởi các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chƣa đủ điều kiện để trực tiếp thực hiện hoạt động xuất khẩu, hoặc coi phần lợi nhuận đem lại từ hoạt động xuất khẩu chỉ là phần phụ trong tổng toàn bộ lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp. 8 + Ngoài ra, đây cũng là phƣơng thức đƣợc một số doanh nghiệp lựa chọn khi muốn từng bƣớc xâm nhập thị trƣờng quốc tế hoặc thử nghiệm thị trƣờng mới trƣớc khi chuyển sang các dạng thức khác đòi hỏi mức độ đầu tƣ nguồn lực và mức độ gắn kết với thị trƣờng cao hơn. Các yếu tố tác động tới xuất khẩu hàng hóa dệt may ra nước ngoài Môi trường kinh doanh - Thị trƣờng Theo tập đoàn Dệt may Việt Nam, năm 2022 thị trƣờng dệt may chứng kiến 2 bức tranh có màu sắc đối lập giữa 6 tháng đầu năm khởi sắc và 6 tháng cuối năm đảo chiều khó khăn (8 tháng đầu năm xuất khẩu tăng 20% so cùng kỳ, tháng 9 chỉ còn tăng 11% nhƣng tháng 10 và tháng 11 quay đầu giảm lần lƣợt 4% và 10% so cùng kỳ) khi nhu cầu tiêu thụ dệt may tại các thị trƣờng lớn nhƣ Mỹ, EU suy giảm do lạm phát cao và lãi suất tăng.
Xuất khẩu dệt may Việt Nam cả năm mặc dù dự kiến đạt mức cao mới khoảng 44,5 tỷ USD, tăng 11% so năm 2021 nhƣng tốc độ tăng trƣởng của Quý 4/2022 đã chậm lại và tình hình khó khăn dự kiến còn tiếp diễn trong năm 2023. 2022 là năm thách thức của ngành khi đứng trƣớc sức ép kinh tế toàn cầu suy giảm, lạm phát tăng cao tại nhiều nền kinh tế lớn khiến nhu cầu hàng dệt may, giày dép sụt giảm. Đặc biệt, trong nửa cuối năm, khó khăn bủa vây, lạm phát tác động đến sức mua toàn cầu khiến đơn đặt hàng của các doanh nghiệp sụt giảm. Tuy nhiên, ngành dệt may và da giày vẫn đạt đƣợc mức tăng trƣởng 2 con số.
10 thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam năm 2021 Nguồn: Tổng cục Hải quan 9 Nhóm hàng hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang thị trƣờng Mỹ, chiếm tới gần 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nƣớc, đạt 16,1 tỷ USD năm 2021. Trong đó riêng tháng 6/2021 xuất khẩu sang thị trƣờng này đạt 1,59 tỷ USD, tăng 21,4% so với tháng 5/2021 và tăng 18,4% so với tháng 6/2020. Đứng sau thị trƣờng chủ đạo Mỹ là thị trƣờng Nhật Bản đạt 3,2 tỷ USD. Sau đó là thị trƣờng Hàn Quốc đạt 3 tỷ USD.
- Sức ép cạnh tranh: Theo Bộ Công Thƣơng, mặc dù là ngành xuất khẩu có trị giá lớn, hàng năm mang về kim ngạch trên 40 tỉ USD, nhƣng ngành dệt may đang chịu sức ép rất lớn từ các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là các quốc gia có nguồn nhân công và nguyên phụ liệu giá rẻ nhƣ Trung Quốc, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ… Trong đó, đặc biệt là các nƣớc thành viên của Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dƣơng (CPTPP). Lý giải vấn đề này, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho rằng, quy tắc xuất xứ từ sợi, vải trở đi là khâu yếu của dệt may Việt Nam, khi Việt Nam phải nhập đến 80% vải cho may XK. Mặc dù hiện nay, một số DN cũng đang tập trung đầu tƣ nghiên cứu phát triển nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất, nâng cao tính chủ động nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chủ động tìm nhiều giải pháp để phục hồi và khôi phục sản xuất, lấy lại đà tăng trƣởng. Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu vẫn còn cao.
Vì vậy, không chỉ vấn đề giá thành sản phẩm, việc phụ thuộc vào nguồn cung nguyên, phụ liệu NK ngoài làm khó DN trong việc đáp ứng kịp thời các đơn hàng, còn là trở ngại đáp ứng yêu cầu quy tắc xuất xứ trong những hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới. Chính vì thiếu ngành công nghiệp phụ trợ, trong 8 tháng năm 2022, trung bình mỗi tháng Việt Nam phải chi hơn 2 tỉ USD để nhập nguyên liệu, bao gồm: Bông, xơ sợi dệt, vải các loại, nguyên phụ liệu cho các ngành dệt, may, da, giày… Trong bối cảnh hiện nay, giá xăng dầu tăng cao, giá nguyên liệu đầu vào cũng “phi mã” đang tác động rất lớn đến sức cạnh tranh của các sản phẩm dệt may Việt Nam. Chính vì vậy, trong dự thảo Chiến lƣợc phát triển ngành dệt may, da giày đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035, Bộ Công Thƣơng đề ra một số giải pháp về đổi 10 mới công nghệ, nhất là với dệt, nhuộm hoàn tất nhằm thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may, lấp dần nguồn cung thiếu hụt. Quản lí nhà nước Trong Chiến lƣợc phát triển ngành dệt may và da giày đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035 mới đƣợc Chính phủ phê duyệt cũng đƣa ra những định hƣớng cơ bản cho ngành.
Trong đó, ngành đƣợc định hƣớng phát triển theo hƣớng chuyên môn hoá, hiện đại hóa; đẩy mạnh chuyển từ gia công sản xuất sang các hình thức đòi hỏi năng lực cao hơn. - Phát triển thời trang dệt may, thúc đẩy và tạo gắn kết, phối hợp giữa các nhà sản xuất, thiết kế phát triển sản phẩm và kinh doanh để định hƣớng và tạo ra các xu hƣớng thời trang cho thị trƣờng trong nƣớc; phát triển xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm và thƣơng hiệu quốc gia. Phát triển trung tâm thời trang tại TP. Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội.