đặt vấn đề rằng điều gì đã dẫn đến sự thành công rực rỡ của các công ty lớn đứng đầu trên thế giới. Và họ đã khám phá ra đó là một tác nhân quan trọng mang tên “Văn hóa doanh nghiệp” ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của các tổ chức và doanh nghiệp. Và họ cũng đã có những khái niệm khác nhau về VHDN. Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO (International Labour Organization): “VHDN là một tập hợp các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.
Hay theo Georges de Saite Marie – chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ: “VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học , đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Các định nghĩa trên đã phản ánh các cách hiểu khác nhau về VHDN, nhưng cũng có những điểm chung để hiểu rõ khái niệm này. Nếu nhấn mạnh về tính vô hình của VHDN, đây cũng đều là những yếu tố chứa đựng những nguyên tắc ngầm được chia sẻ, được chấp nhận bởi một nhóm người trong tổ chức, quyết định nhận thức, suy nghĩ, hành động, của họ và của tổ chức đối với sự biến đổi của môi trường xung quanh. Theo hình thức thể hiện, VHDN là hệ thống chia sẻ quan điểm nhận thức, quan điểm của các thành viên trong tổ chức, để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác.
3 Còn theo định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức kinh tế Edgar Schein: “VHDN là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý môi trường xung quanh”. Nội dung của VHDN không phải là một cái gì đó tự nghĩ ra một cách ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh thực tiễn, trong quá trình liên hệ, tác động qua lại và có quan hệ, như một giải pháp cho những vấn đề mà môi trường bên trong và môi trường bên ngoài đặt ra cho doanh nghiệp đó. Từ những khái niệm trên, ta có thể đưa ra một khái niệm chung về VHDN: “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống chuẩn mực của các giá trị, quan niệm, nguyên tắc hành vi được chia sẻ bên trong tổ chức, có ảnh hưởng tích cực mạnh mẽ đến cách thức hành động và suy nghĩ của các thành viên trong tổ chức đó. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp VHDN hình thành và phát triển song song với quá trình phát triển của tổ chức, bao gồm văn hóa giao tiếp, giá trị cốt lõi, các quy tắc, phong cách quản lý, phương thức kinh doanh và hành vi, thái độ của mỗi thành viên trong tổ chức.
VHDN là tài sản vô hình nhưng góp phần tạo nên sức mạnh của tổ chức, của doanh nghiệp. Văn hóa có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp. VHDN bao gồm các vai trò quan trọng: Giữ chân và thu hút nhân tài Việc tạo động cơ làm việc cho các thành viên trong doanh nghiệp là một yếu tố quyết định đến hiệu suất và hiệu quả của doanh nghiệp. Hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp đều cố gắng để tạo động cơ làm việc cho nhân viên của họ thông qua cơ chế thưởng phạt.
Mặc dù những yếu tố này rõ ràng có tác dụng, tuy nhiên, mong muốn làm việc của nhân viên còn chịu tác động của các động cơ như ý nghĩa và sự thích thú đối với công việc, mục tiêu của họ 4 với mục đích của tổ chức, họ cảm nhận giá trị của công việc và được đảm bảo, an toàn trong công việc. Một hình thái văn hoá phù hợp và thống nhất có tác động tạo ra sự trung thành, thúc đẩy niềm tin và giá trị chân chính, khuyến khích mọi thành viên mang hết nhiệt huyết để phục vụ cho tổ chức của mình. VHDN giúp mỗi nhân viên thấy rõ định hướng và mục tiêu của tổ chức, từ đó, họ thấy được ý nghĩa của công việc và trách nhiệm của mình đối với tổ chức và họ sẽ hứng thú đối với công việc được giao, phát huy khả năng sáng tạo, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả của công việc, đóng góp cho thành công của tổ chức. Hơn nữa, khi có những quyết định quan trọng hay những xung đột xảy ra thì chính VHDN sẽ là yếu tố quan trọng tạo nên sự nhất trí và hòa hợp.
Khi đó, bầu không khí cũng như môi trường làm việc của tổ chức thực sự cởi mở, đoàn kết, ảnh 17 hưởng rất tích cực đến tinh thần và thái độ làm việc của từng nhân viên và họ sẽ cảm thấy hãnh diện, tự hào với công việc cũng như tổ chức của mình. Điều này sẽ khiến mỗi nhân viên mong muốn làm việc lâu dài, gắn bó và trung thành với doanh nghiệp. Tạo dựng lòng tin và thu hút khách hàng, đối tác Văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với uy tín của doanh nghiệp. Doanh nghiệp xây dựng được một văn hoá tốt sẽ thu hút khách hàng và đối tác đến với mình, mở rộng thị phần và thúc đẩy tăng trưởng nhờ sự ủng hộ từ các bên liên quan.
Bởi những doanh nghiệp như vậy khiến đối tác yên tâm và tin tưởng vào chiến lược, tầm nhìn của họ chứ không đơn giản vì sản phẩm hay giá thành cạnh tranh. VHDN đại diện cho công ty về các giá trị, hành vi, cách thức quản lý của tổ chức và đạo đức nghề nghiệp. Do đó, VHDN là yếu tố quan trọng cần chú ý khi xây dựng quan hệ của doanh nghiệp với đối tác. Tạo ra nét đặc trưng của tổ chức và xây dựng khối đoàn kết Mỗi tổ chức, doanh nghiệp đều có nét văn hóa riêng để khi nhắc đến tổ chức, doanh nghiệp nào thì người ta cũng sẽ nhớ đến giá trị văn hóa của tổ chức, doanh nghiệp đó.
Mỗi doanh nghiệp xây dựng cho mình một nét văn hoá riêng có thì đó chính là yếu tố tạo nên đặc tính riêng cho từng tổ chức, 5 giúp phân biệt tổ chức này với tổ chức khác, kể cả khi các tổ chức cùng hoạt động trong một lĩnh vực, ngành nghề; tạo cho họ có những dấu ấn riêng làm nên sự tự hào và danh tiếng của tổ chức đó. Đồng thời, việc tạo ra một văn hoá chung sẽ tạo ra sự thống nhất trong quan điểm nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn và lợi ích chung cho hành động của các thành viên. Điều này rất ý nghĩa với một tổ chức có mâu thuẫn và sự thiếu thống nhất về nội bộ. Để tồn tại và đáp ứng được sự thay đổi của môi trường, những vấn đề quan trọng mà hầu hết các tổ chức đều phải đối mặt đó là tạo sự thống nhất cao trong việc thực hiện chức năng, chiến lược, mục tiêu đặt ra của tổ chức.
VHDN định hướng các thành viên trong tổ chức đó với các yếu tố như: sứ mệnh, tầm nhìn, hệ thống mục tiêu, chiến lược. Một khi các yếu tố này đã được xác định rõ ràng thì đó chính là kim chỉ nam cho các hoạt động của nhân viên, là cái đích để cả tổ chức cùng hướng đến. VHDN cũng tạo ra sự nhất quán trong các hoạt động, các quyết định của tổ chức, do đó sự hợp tác giữa các thành viên sẽ trở nên hiệu quả hơn, với sự nhất trí chung thì tất cả các thành viên trong tổ chức sẽ có trách nhiệm và cam kết thực hiện các mục tiêu của tổ chức tốt hơn. Điều này được phản ánh qua sự đoàn kết của các thành viên trong tổ chức, thể hiện ở việc trao đổi thông tin dựa trên chức năng, nhiệm vụ; phản ánh qua các nguyên tắc tạo ra mối quan hệ giữa các cá nhân trong công việc như cơ chế khen thưởng được thực hiện như thế nào, trên cơ sở nào; trong việc giải quyết những tình huống phức tạp có nhiều ý kiến khác nhau.
Phối hợp và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Nhìn một cách rộng hơn, văn hoá thúc đẩy sự thống nhất trong nhận thức, cũng chính là tạo thuận lợi trong phối hợp và kiểm soát. Văn hoá biểu hiện trong truyền thống của tổ chức, tạo ra khuôn mẫu ứng xử của tổ chức đó, được các thành viên chấp nhận và tuân thủ, thể hiện sự hoà đồng bên trong tổ chức nói chung, cũng như việc ra quyết định trong những trường hợp cụ thể. Đặc biệt là trong việc ra quyết định gặp phải những thực tế phức tạp, do sự khác nhau về nhận thức, về văn hoá địa phương của các thành viên, thì văn 6 hoá tổ chức sẽ có tác động để phạm vị hoá sự lựa chọn. Văn hoá không chỉ xem như một yếu tố thuận lợi cho phối hợp, mà trong hình thái giá trị, niềm tin, cách ứng xử, đặc biệt là cách nhận thức chung, văn hoá còn tạo ra sức mạnh để kiểm soát tổ chức.
Những chính kiến văn hoá đã hạn chế một cách có hiện quả hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp, họ chỉ được tự do thể hiện chính kiến cá nhân của mình trong khuôn khổ chung của tổ chức. Nhiều tổ chức cố gắng để tập hợp văn hoá của họ cho lợi thế cạnh tranh, đây chính là một minh chứng về sức mạnh văn hoá để tạo ra những ứng xử mong muốn, và đảm bảo thực hiện được nguyên tắc. Giúp giảm rủi ro trong công việc hàng ngày Ở cấp độ cá nhân, một trong những chức năng của văn hoá là truyền tải những “nhận thức chung” qua quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân viên mới. Điều này được thực hiện thông qua ý tưởng của văn hoá, mà các thành viên mới phải học để hiểu và thực hiện trong công việc.
Việc thực hiện này sẽ tạo cơ sở suy nghĩ cho họ để giảm sự âu lo buồn phiền, bình thường hóa mọi việc xung quanh, để có những lựa chọn dễ dàng, và những hành động có suy nghĩ hơn, hợp lý hơn. Ở cấp độ tổ chức, với những biểu tượng, truyền thống văn hoá, một tổ chức có thể tạo ra một thế giới riêng cho tổ chức mình, trong đó sự phức tạp và các yếu tố rủi ro được giảm bớt. Trên cơ sở đó, tổ chức sẽ có khả năng kiểm soát các hoạt động của mình, tối đa hoá những hoạt động có hiệu quả. Vì vậy, VHDN giúp tăng lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, đặc biệt là trong một môi trường cạnh tranh.