Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về văn hoá doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hoá doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp được coi là một xã hội thu nhỏ, trong một xã hội rộng lớn. Xã hội lớn có nền văn hoá lớn, thì doanh nghiệp cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hoá riêng biệt.
Nền văn hoá ấy chịu ảnh hưởng và đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành nền văn hoá lớn. Như Edgar Schein, một nhà quản trị nổi tiếng người Mỹ đã ndói: “ Văn hoá doanh nghiệp gắn với văn hoá xã hội, là một bước tiến của văn hoá xã hội, là tầng sâu của văn hoá xã hội. Văn hoá doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người với người. Nói rộng ra nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hoá doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay”.
Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công đó. Cụm từ Corporate culture (Văn hoá doanh nghiệp) đã được các chuyên gia nghiên cứu về tổ chức và các nhà quản lý sử dụng để chỉ một trong những tác nhân chủ yếu dẫn tới sự thành công của các công ty Nhật trên khắp thế giới. Đầu thập kỷ 90, người ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố cấu thành cũng như những tác động to lớn của văn hoá đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Đã có rất nhiều khái niệm văn hoá doanh nghiệp được đưa ra nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn nào được chính thức công nhận.
Ông Saite Marie, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra định nghĩa như sau: “ Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hoá doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. 2 Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “ Văn hoá công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” Đứng trên góc độ quản lý thực hành, PGS. TS Nguyễn Mạnh Quân đưa ra định nghĩa: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”.
Và “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là nghĩa vụ một doanh nghiệp phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các tác động tiêu cực đến những người hữu quan khi hành động”. Qua việc nghiên cứu và tiếp thu nghiên cứu vấn đề lý luận đối với văn hoá doanh nghiệp của các tác giả tiêu biểu, luận văn cho rằng văn hoá doanh nghiệp có thể định nghĩa như sau: “ Văn hoá doanh nghiệp là sự tổng hoà của các nghĩa vụ pháp lý, nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ đạo đức và nhân văn, hướng tới sự phát triển các thành viên trong doanh nghiệp, song hành và cùng chung mục tiêu cho sự phát triển của doanh nghiệp đó”. trong đó: Nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp là tổ chức phải thực hiện đầy đủ những quy định của pháp luật như một yêu cầu tối thiểu trong hành vi xã hội. Những nghĩa vụ này được xã hội đặt ra bởi vì những đối tượng hữu quan.
Đây chính là tâm điểm của các nghĩa vụ về pháp lý. Nghĩa vụ kinh tế của doanh nghiệp là một tổ chức quan tâm đến cách thức phân bổ các nguồn lực trong hệ thống xã hội và tự nhiên, để sử dụng làm ra sản phẩm và dịch vụ, nhằm tạo ra giá trị thặng dư một cách hiệu quả nhất. Nghĩa vụ đạo đức và nhân văn của doanh nghiệp liên quan đến những hành vi hay hành động được các thành viên tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi hay không mong đợi, tuy không được thể chế hóa thành luật nhưng hướng tới việc đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng và xã hội hay sự phát triển của con người. 3 Và được thể hiện như hình 1.
Nghĩa vụ đạo đức và nhân văn Nghĩa vụ kinh tế Nghĩa vụ pháp lý Hình 1.1: Mô tả văn hoá doanh nghiệp[5] 1. Các cấp độ Văn hóa doanh nghiệp Việc tập trung xem xét các cấp độ văn hóa doanh nghiệp sẽ làm sáng tỏ quá trình hình thành các giá trị văn hóa trong mỗi doanh nghiệp. Shein, văn hoá doanh nghiệp có thể chia thành hai cấp độ (level) khác nhau. - Kiến trúc nội ngoại thất - Cơ cấu tổ chức, các văn bản Cấp độ Những quá trình và quy định nguyên tắc.
thứ nhất cấu trúc hữu hình - Lễ nghi, lễ hội, logo, mẫu (hữu hình) của DN mã sản phẩm…. - Những giá trị được công Những giá trị được bố: các chiến lược, mục tiêu, chấp nhận triết lý kinh doanh - Các quy định, nguyên tắc hoạt động - Những quan niệm chung: Những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ, tình cảm mang tính Cấp độ Những quan niệm vô thức, mặc nhiên được thứ hai chung công nhận.2: Sơ đồ các cấp độ văn hoá doanh nghiệp[5] Thuật ngữ “cấp độ” ở đây chỉ mức độ cảm nhận được của các giá trị văn hoá trong doanh nghiệp hay cũng có thể nói rằng tính hữu hình và vô hình, tính trực 4 quan và phi trực quan trong biểu hiện của các giá trị văn hoá đó. Đây là cách tiếp cận độc đáo đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hoá, giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc và đầy đủ những bộ phận cấu thành nền văn hoá, hai cấp độ văn hoá doanh nghiệp được minh hoạ qua hình 1. Theo các nhà phân tích, các cấp độ của văn hoá doanh nghiệp được mô phỏng qua mô hình tảng băng văn hoá (hình 1.3); với phần nổi bên trên là những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp, cấp độ tiếp theo là phần chìm của tảng băng, đó là phần vô hình của văn hoá doanh nghiệp, phần sâu nhất chính là yếu tố tạo nên bản sắc riêng cho doanh nghiệp.Những nhìn thấy ở lớp bề mặt quá trình Hữu hình và cấu trúc hữu hình như cách bài trí,biểu tượng, khẩu hiệu, lễ hội… 2.
Những giá trị được chấp nhận, chia sẻ, tuyên bố (các chiến lược, mục tiêu, triết lý của doanh nghiệp) 3. Các quan niệm chung (niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm … Những giá trị sâu hơn và những nhận thức được hình thành bởi các thành viên của tổ chức Vô hình Hình 1.3: Mô hình tảng băng văn hóa doanh nghiệp [5] 1. Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của Doanh nghiệp Bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một người có thể nhìn, nghe và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hoá xa lạ như: - Kiến trúc, cách bài trí; công nghệ, sản phẩm. - Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp.
- Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp. - Lễ nghi và lễ hội hàng năm. - Các biểu tượng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp. - Ngôn ngữ, cách ăn mặc, xe cộ, chức danh, cách biểu lộ cảm xúc, hành vi ứng xử thường thấy của các thành viên và các nhóm làm việc trong doanh nghiệp.
- Những câu chuyện và những huyền thoại về tổ chức. - Hình thức, mẫu mã của sản phẩm. 5 - Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên doanh nghiệp. Đây là cấp độ văn hoá có thể nhận thấy ngay khi trong lần tiếp xúc đầu tiên, nhất là với những yếu tố vật chất như: vật kiến trúc, cách bài trí, đồng phục… Cấp độ văn hoá này có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng nhiều của tính chất công việc kinh doanh của công ty, quan điểm của người lãnh đạo.
Tuy nhiên, cấp độ văn hoá này dễ thay đổi và ít khi thể hiện được những giá trị thực sự trong VHDN, có quan điểm cho rằng cấp này chỉ phản ánh khoảng 13% đến 20% giá trị văn hoá của doanh nghiệp. Cấp độ thứ hai (biểu tượng phi trực quan – vô hình):những giá trị được tuyên bố và những quan niệm chung Những giá trị được tuyên bố (Chiến lược kinh doanh, mục tiêu, triết lý của doanh nghiệp, …) Bất kể doanh nghiệp nào cũng có các quy định, nguyên tắc, triết lý, mục tiêu và chiến lược hoạt động riêng của mình; nhưng chúng được thể hiện với nội dung, phạm vi mức độ khác nhau giữa các doanh nghiệp mà thôi. Đó là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên trong doanh nghiệp và được doanh nghiệp công bố rộng rãi ra công chúng để mọi thành viên cùng thực hiện, chia sẻ và xây dựng. Đây chính là những giá trị được công bố, một bộ phận của nền văn hoá doanh nghiệp.
Những giá trị được công bố cũng có tính hữu hình vì người ta có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác. Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn cho các nhân viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với các tình huống cơ bản và rèn luyện cách ứng xử cho các nhân viên mới trong môi trường cạnh tranh. Những quan niệm chung (những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp) Trong bất kỳ hình thức văn hoá nào (văn hoá dân tộc, văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp, …) cũng đều có các quan niệm chung, được tồn tại trong thời gian dài, chúng ăn sâu vào trong tâm trí của hầu hết tất cả các thành viên thuộc nền văn hoá đó và trở thành điều mặc nhiên được công nhận. Ví dụ, cùng một vấn đề: Vai trò của phụ nữ trong xã hội.