Luận văn: Giải pháp việc làm cho lao động nông thôn huyện Gia Bình, Bắc Ninh

Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm hiệu quả cho lao động nông thôn tại Gia Bình, Bắc Ninh.

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Tác giả

Nguyễn Chí Hải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẨU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Đối tượng nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Một số học thuyết kinh tế về giải quyết việc làm

1.2.1. Mô hình của kinh tế chính trị học tiểu tư sản

1.2.2. Mô hình của trường phái cổ điển mới

1.2.3. Mô hình của trường phái Keynes

1.2.4. Mô hình về việc làm của Michael P

1.3. Cơ sở thực tiễn

1.3.1. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của một số nước trên thế giới

1.3.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở nước ta

1.3.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm của một số tỉnh

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu

2.2.3. Phương pháp phân tích xử lý số liệu

2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

3. Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Bưu chính, viễn thông

3.1.3. Giáo dục và đào tạo

3.1.4. Y tế và sức khoẻ

3.2. Thực trạng lao động tại huyện Gia Bình và các xã nghiên cứu

3.2.1. Thực trạng lao động và trình độ tại huyện Gia Bình và các xã nghiên cứu

3.2.2. Lao động huyện Bình Gia và các xã nghiên cứu xét theo độ tuổi

3.2.3. Lao động tại các xã nghiên cứu năm 2017 xét theo giới tính

3.2.4. Tỷ lệ lao động so với nhân khẩu tại các xã nghiên cứu năm 2017

3.2.5. Tỷ lệ lao động tại các xã nghiên cứu năm 2017 chia theo ngành kinh tế

3.3. Thực trạng lao động và việc làm tại các xã nghiên cứu

3.3.1. Thực trạng việc làm tại các hộ điều tra

3.3.2. Thực trạng việc làm tại các hộ điều tra chia theo chủ hộ và các thành viên trong hộ

3.3.3. Số tháng có việc làm tại các hộ điều tra

3.3.4. Thực trạng việc làm tại các hộ điều tra chia theo giới

3.3.5. Thực trạng việc làm tại các hộ điều tra chia theo độ tuổi

3.4. Phân tích SWOT về lao động và việc làm tại các xã nghiên cứu

3.4.1. Thế mạnh trong vấn đề giải quyết việc làm tại địa phương

3.4.2. Điểm yếu trong vấn đề giải quyết việc làm tại địa phương

3.4.3. Những cơ hội trong vấn đề giải quyết việc làm tại địa phương

3.4.4. Những thách thức trong vấn đề giải quyết việc làm tại địa phương

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh thực trạng việc làm cho lao động nông thôn Gia Bình

Huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, là một địa bàn thuần nông với những đặc thù riêng về kinh tế và xã hội. Vấn đề giải pháp việc làm cho lao động nông thôn tại Gia Bình đang trở thành một bài toán cấp thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế địa phương và chất lượng cuộc sống người dân. Thực trạng cho thấy, dù có những bước chuyển mình tích cực, nền kinh tế của huyện vẫn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, một ngành mang tính thời vụ cao. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu việc làm phổ biến, đặc biệt là trong những tháng nông nhàn. Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Hải (2018), có khoảng 20,69% hộ gia đình tại các xã khảo sát bị thiếu việc làm, trong đó nhiều lao động thiếu việc làm tới 6 hoặc 9 tháng trong năm. Nguồn nhân lực tại đây chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chuyên sâu, gây khó khăn trong việc chuyển đổi cơ cấu lao động và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Lao động trẻ có xu hướng di cư đến các việc làm khu công nghiệp Bắc Ninh hoặc các thành phố lớn, để lại địa phương phần lớn là lao động nữ và người cao tuổi. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu phải có những chiến lược đồng bộ, từ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, nhằm tạo ra việc làm bền vững ngay tại quê hương.

1.1. Bối cảnh kinh tế xã hội và cơ cấu nhân lực tại Gia Bình

Gia Bình là một huyện có vị trí chiến lược, nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách trung tâm tỉnh Bắc Ninh 27 km. Kinh tế của huyện trong những năm qua đã có sự tăng trưởng, nhưng cơ cấu vẫn nghiêng về nông nghiệp. Lực lượng lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn, tuy nhiên chất lượng chưa cao. Báo cáo cho thấy phần lớn lao động chưa qua đào tạo hoặc có qua đào tạo nhưng không có chứng chỉ. Tỷ lệ lao động nữ cao hơn nam, và số người phụ thuộc trong các hộ gia đình khá cao. Sự phát triển kinh tế địa phương đang đứng trước thách thức về việc làm thế nào để khai thác hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào nhưng tay nghề còn hạn chế này. Các chính sách thu hút đầu tư đã có, nhưng chưa đủ mạnh để tạo ra một cuộc cách mạng về việc làm tại chỗ.

1.2. Nhu cầu cấp thiết về giải pháp việc làm ổn định bền vững

Tình trạng thiếu việc làm theo mùa vụ là nguyên nhân chính dẫn đến thu nhập bấp bênh và đời sống khó khăn cho nhiều hộ gia đình. Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong 120 hộ được khảo sát, có tới 20,69% thiếu việc làm. Đáng chú ý, "số tháng thiếu việc làm phổ biến ở hai mức là 9 và 6 tháng" (Nguyễn Chí Hải, 2018). Việc lao động phải di cư tìm việc ở nơi khác không chỉ tạo áp lực cho các đô thị mà còn để lại nhiều hệ lụy xã hội tại địa phương như trẻ em thiếu sự chăm sóc, mối quan hệ gia đình lỏng lẻo. Do đó, việc tìm kiếm và triển khai các giải pháp việc làm cho lao động nông thôn tại Gia Bình không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là yếu tố then chốt để đảm bảo chính sách an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của huyện.

II. Thách thức chính trong giải quyết việc làm lao động nông thôn

Việc tạo ra các giải pháp việc làm cho lao động nông thôn tại Gia Bình đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Thách thức lớn nhất đến từ chất lượng nguồn nhân lực. Phần lớn lao động là lao động phổ thông, tay nghề thấp, không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp hiện đại và các làng nghề truyền thống Gia Bình đang cần đổi mới. Công tác đào tạo nghề cho nông dân còn nhiều bất cập, thường chạy theo số lượng mà chưa chú trọng chất lượng và tính phù hợp với nhu cầu thị trường. Một rào cản khác là sự hạn chế về vốn và thị trường tiêu thụ. Nhiều hộ gia đình thiếu vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh. Theo nghiên cứu, "thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh" là một trong những khó khăn hàng đầu. Địa phương cũng chưa làm tốt công tác hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, khiến người dân gặp khó trong việc tìm đầu ra ổn định. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh từ các việc làm khu công nghiệp Bắc Ninh với mức lương hấp dẫn đã hút một lượng lớn lao động trẻ, khỏe, năng động, làm gia tăng tình trạng thiếu hụt lao động chất lượng cao tại địa phương, ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động.

2.1. Hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực và tính thời vụ

Chất lượng nguồn nhân lực là điểm yếu cố hữu. Luận văn của Nguyễn Chí Hải (2018) khẳng định: "lao động tại địa phương chủ yếu chưa qua đào tạo, tay nghề thấp, không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp cũng như các làng nghề". Điều này tạo ra một nghịch lý: doanh nghiệp thiếu lao động có kỹ năng, trong khi người lao động lại thiếu việc làm. Thêm vào đó, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao khiến người dân chỉ bận rộn trong vài tháng, thời gian còn lại rảnh rỗi nhưng không có việc làm thêm. Sự phụ thuộc vào nông nghiệp truyền thống khiến việc sử dụng thời gian lao động kém hiệu quả, thu nhập không ổn định.

2.2. Khó khăn về vốn thị trường và mô hình liên kết sản xuất

Khả năng tiếp cận nguồn vay vốn sản xuất kinh doanh của người dân còn nhiều hạn chế do thủ tục phức tạp hoặc thiếu tài sản thế chấp. Điều này kìm hãm sự phát triển của các mô hình kinh tế hộ gia đình. Vấn đề thị trường tiêu thụ cũng là một bài toán nan giải. Sản phẩm làm ra, đặc biệt là nông sản và sản phẩm thủ công, thường bị thương lái ép giá hoặc không có đầu ra ổn định. Mô hình liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà nông - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) chưa thực sự phát huy hiệu quả, thiếu sự kết nối chặt chẽ để hỗ trợ nông dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương.

III. Cách phát triển kinh tế tại chỗ tạo việc làm cho nông dân

Để giải quyết bài toán việc làm cho lao động nông thôn tại Gia Bình, hướng đi trọng tâm là phát triển kinh tế tại chỗ, tận dụng tối đa tiềm năng và lợi thế của địa phương. Một trong những giải pháp hiệu quả là khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống Gia Bình, kết hợp với việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm OCOP Gia Bình. Việc này không chỉ tạo ra việc làm mà còn bảo tồn giá trị văn hóa. Song song đó, việc thúc đẩy ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng các mô hình hợp tác xã kiểu mới là xu thế tất yếu. Các mô hình này giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm sự phụ thuộc vào thời tiết và tạo ra việc làm ổn định quanh năm. Hợp tác xã kiểu mới đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức sản xuất quy mô lớn, kết nối thị trường và hỗ trợ kỹ thuật cho xã viên. Một hướng đi mới đầy tiềm năng khác là phát triển du lịch cộng đồng. Gia Bình với những nét văn hóa đặc trưng, cảnh quan làng quê yên bình có thể xây dựng các tour du lịch trải nghiệm, homestay, tạo ra nguồn thu nhập mới từ dịch vụ và thúc đẩy các ngành nghề phụ trợ phát triển.

3.1. Khai thác làng nghề truyền thống và sản phẩm OCOP Gia Bình

Gia Bình có nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, mây tre đan... Đây là nguồn tài nguyên quý giá để tạo việc làm. Cần có chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, đầu tư máy móc, cải tiến mẫu mã để sản phẩm đáp ứng thị hiếu hiện đại. Đồng thời, việc xây dựng và quảng bá các sản phẩm OCOP Gia Bình sẽ giúp nâng cao giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ. Các sản phẩm này khi có thương hiệu sẽ dễ dàng tiếp cận các kênh phân phối hiện đại như siêu thị, sàn thương mại điện tử, tạo đầu ra bền vững và thu nhập cao hơn cho người lao động.

3.2. Áp dụng nông nghiệp công nghệ cao và HTX kiểu mới

Chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao là giải pháp căn cơ để khắc phục tính thời vụ. Các mô hình như trồng rau trong nhà kính, tưới tiêu tự động, chăn nuôi theo quy trình VietGAP không chỉ cho năng suất vượt trội mà còn tạo ra việc làm đòi hỏi kỹ thuật cao hơn. Các mô hình hợp tác xã kiểu mới sẽ là cầu nối, giúp các hộ nhỏ lẻ liên kết lại, tiếp cận khoa học kỹ thuật, nguồn vốn và thị trường một cách hiệu quả, từ đó ổn định sản xuất và việc làm cho các thành viên.

IV. Phương pháp nâng cao chất lượng lao động mở rộng cơ hội

Bên cạnh việc tạo việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố sống còn để người lao động có thể tự tạo ra cơ hội cho chính mình. Trọng tâm của giải pháp này là công tác đào tạo nghề cho nông dân. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế lại, phải xuất phát từ khảo sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xã hội, thay vì đào tạo dàn trải. Nội dung cần tập trung vào các kỹ năng thực hành, dễ áp dụng. Hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm cần được nâng cao hiệu quả, không chỉ giới thiệu việc làm trong huyện mà còn kết nối với các doanh nghiệp ngoài tỉnh, thậm chí là các thị trường lao động quốc tế. Xuất khẩu lao động Nhật Bản là một kênh tiềm năng, mang lại thu nhập cao và cơ hội học hỏi tác phong công nghiệp cho người lao động. Để thực hiện được những điều này, cần có sự vào cuộc của hệ thống chính trị với các chính sách an sinh xã hội cụ thể, hỗ trợ chi phí học nghề, cung cấp thông tin thị trường lao động minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận các cơ hội việc làm mới.

4.1. Tối ưu hóa chương trình đào tạo nghề cho nông dân sát nhu cầu

Chương trình đào tạo nghề cho nông dân cần gắn chặt với quy hoạch phát triển của địa phương. Nếu địa phương phát triển du lịch cộng đồng, cần mở các lớp về nghiệp vụ lễ tân, nấu ăn, hướng dẫn viên. Nếu phát triển làng nghề, cần đào tạo kỹ năng chạm khắc, thiết kế mẫu mã. Theo nghiên cứu, "công tác khảo sát nhu cầu phục vụ cho việc đào tạo nghề chưa được thực hiện tốt, chưa sát với nhu cầu" (Nguyễn Chí Hải, 2018). Do đó, cần có sự phối hợp giữa trung tâm đào tạo, chính quyền và doanh nghiệp để xây dựng chương trình giảng dạy thực tiễn, đảm bảo học viên sau khi tốt nghiệp có thể tìm được việc làm phù hợp.

4.2. Vai trò trung tâm dịch vụ việc làm và chính sách hỗ trợ

Trung tâm dịch vụ việc làm phải trở thành cầu nối hiệu quả giữa người lao động và nhà tuyển dụng. Trung tâm cần chủ động thu thập thông tin việc làm, tổ chức các phiên giao dịch, tư vấn hướng nghiệp cho lao động, đặc biệt là thanh niên. Các chính sách an sinh xã hội như hỗ trợ vay vốn ưu đãi để đi học nghề hoặc xuất khẩu lao động Nhật Bản, bảo hiểm thất nghiệp cho lao động phi chính thức... sẽ là điểm tựa vững chắc, khuyến khích người lao động mạnh dạn đầu tư cho tương lai, từ đó cải thiện năng lực cạnh tranh và tìm kiếm được những công việc tốt hơn.

V. Hướng đi bền vững cho việc làm lao động nông thôn Gia Bình

Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một quá trình dài hạn, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp. Hướng đi bền vững cho Gia Bình không nằm ở một giải pháp đơn lẻ mà là sự tổng hòa của các chiến lược, từ phát triển kinh tế nội tại đến nâng cao năng lực con người. Tầm nhìn dài hạn là thực hiện thành công việc chuyển đổi cơ cấu lao động, giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Điều này đòi hỏi một lộ trình rõ ràng, với các chính sách vĩ mô hỗ trợ mạnh mẽ từ cấp tỉnh đến cấp huyện. Cần xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên nông thôn, khuyến khích họ ở lại quê hương lập nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, thu hút các doanh nghiệp có công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động về địa phương. Tương lai của việc làm cho lao động nông thôn tại Gia Bình phụ thuộc vào khả năng biến những thách thức hiện tại thành cơ hội, xây dựng một nền kinh tế nông thôn đa dạng, năng động và bền vững.

5.1. Tầm nhìn chiến lược về chuyển đổi cơ cấu lao động địa phương

Chiến lược chuyển đổi cơ cấu lao động cần được xây dựng dựa trên thế mạnh của Gia Bình. Đó là phát triển các cụm công nghiệp nhỏ và vừa, chuyên về chế biến nông sản hoặc sản xuất hàng thủ công. Tầm nhìn này phải gắn liền với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn mới. Việc chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp phải đi đôi với việc đào tạo lại lực lượng lao động để họ có thể thích ứng với công việc mới. Đây là một quá trình cần sự kiên trì và đầu tư bài bản để đảm bảo sự chuyển đổi diễn ra một cách hài hòa, tránh gây xáo trộn xã hội.

5.2. Kiến nghị chính sách vĩ mô và giải pháp phối hợp đồng bộ

Để các giải pháp phát huy hiệu quả, cần có các kiến nghị chính sách cụ thể. Cần đơn giản hóa thủ tục cho người dân vay vốn sản xuất kinh doanh. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi thuế, đất đai cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn, đặc biệt là các doanh nghiệp tạo nhiều việc làm. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và giảm nghèo. Chỉ khi có sự phối hợp nhịp nhàng và một khung chính sách đủ mạnh, các giải pháp việc làm cho lao động nông thôn tại Gia Bình mới thực sự đi vào cuộc sống và mang lại kết quả bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

03/10/2025
Luận văn thạc sĩ giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện gia bình tỉnh bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động Theo cuốn giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao động, Trường ĐH Kinh tế quốc dân thì: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người” Khái niệm này nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội. Thực tế, hoạt động lao động của con người được thực hiện trên nhiều lĩnh vực hết sức phong phú và đa dạng, như nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá nghệ thuật.Vì vậy, khái niệm này chưa thể hiện rõ được hết các hoạt động lao động của con người.

Trong giáo trình: Kinh tế học chính trị Mác - Lênin viết: “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người” Trong bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội” 6 download by : skknchat@gmail.com Hai khái niệm sau cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn diện các hoạt động lao động phong phú của con người. Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng. Trong lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương thức tác động vào thế giới tự nhiên, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn.

Như vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong quá trình con người phát triển hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Trong lao động con người không chỉ nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên mà còn cả những kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức. Lao động là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển xã hội. Sức lao động Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong con người.

Thể lực, trí lực và tâm lực đó đem ra vận dụng trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất và những giá trị tinh thần của xã hội. Sức lao động là năng lực tiềm ẩn trong mỗi người lao động, đánh giá năng lực đó là hết sức phức tạp. Tuy nhiên, người ta thường dùng ba tiêu chí cơ bản sau để đánh giá: Một là thể lực, con người có sức khoẻ tốt thì mới có khả năng lao động với năng suất cao và học tập đạt kết quả tốt. ở các nước đang phát triển nói chung, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, người lao động thường có thể lực hạn chế do mức sống thấp.

Sức khoẻ kém dẫn đến năng suất lao động thấp, năng suất lao động thấp lại dẫn đến mức sống thấp, mức sống thấp ảnh hưởng đến thể lực và khả năng học tập, điều đó lại làm cho năng suất lao động thấp.đó là cái vòng luẩn quẩn cần phải phá bỏ. Muốn phá 7 download by : skknchat@gmail.com bỏ cái vòng luẩn quẩn đó thì điều mấu chốt là phải tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn, đảm bảo cho người dân được tiếp cận với một nền giáo dục ngày càng cao và sự chăm sóc y tế ngày càng đầy đủ, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại. Hai là tâm lực, tâm lực là nhân cách, là đạo đức và lối sống của con người, là phương thức cư sử của con người với cộng đồng và xã hội. Hiện nay, tâm lực là yếu tố được coi trọng hàng đầu vì đạo đức và lối sống là cái gốc của con người.

Con người có đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với cộng đồng thì thông qua rèn luyện có thể nâng cao được thể lực và trí lực của mình. Người có tâm lực kém thì chỉ có ảnh hưởng xấu đối với xã hội. Thể lực càng tốt, trí lực càng cao mà tâm lực không có thì tác hại gây ra cho xã hội càng lớn. Như Bác Hồ đã nói, người có tài mà không có đức thì chỉ phá hoại.

Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn lao động thì phải luôn quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức và lối sống, tác phong và nhân cách cho người lao động. Tạo cho người lao động phong cách lao động cần cù sáng tạo, biết trân trọng những giá trị của lao động chân chính, biết thương yêu giúp đỡ nhau trong lao động, có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Đó là điều kiện quan trọng nhất để phát triển nhanh chóng và toàn diện nền kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông thôn nói riêng. Ba là trí lực, trí lực là trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động, là trình độ hiểu biết của con người được áp dụng trong quá trình lao động nhằm đạt năng suất lao động cao.

Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng lao động trực tiếp, khi hàm lượng chất xám ngày càng cao trong giá trị của sản phẩm thì trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động có vai trò hết sức quan trọng. Người lao động có trình độ văn hoá và chuyên môn cao mới có thể tiếp cận và áp dụng có hiệu quả 8 download by : skknchat@gmail.com những tiến bộ của khoa học và công nghệ, từ đó sẽ tạo được hiệu quả cao trong lĩnh vực hoạt động của mình. Như vậy, để có nguồn lao động có chất lượng cao cần phải bồi dưỡng người lao động một cách toàn diện cả về thể lực, tâm lực và trí lực. Về cơ bản và lâu dài là phải xây dựng và phát triển một nền giáo dục có chất lượng cao và đảm bảo cho toàn dân đều có khả năng được cung cấp dịch vụ giáo dục tiên tiến.

Nông thôn - Khái niệm về nông thôn Cho đến nay, gần như chưa có định nghĩa nào về nông thôn được chấp nhận rộng rãi. Nếu cho rằng nông thôn là địa bàn có mật độ dân số thấp hơn thành thị thì chưa thoả đáng vì chỉ tiêu này khác nhau giữa các nước và ngay ở nước ta thì một số vùng nông thôn so với nhiều thị xã thì mật độ dân số không thấp hơn. Có nhiều ý kiến cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Đây là ý kiến có tính thuyết phục hơn nhưng chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư.

Một số nhà khoa học đưa ra khái niệm về nông thôn như sau: “Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn” Đây là khái niệm dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá giữa nông thôn và thành thị vì vậy nó mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn. 9 download by : skknchat@gmail.com Với khái niệm về nông thôn như trên, chúng ta có thể phân tích những đặc trưng chủ yếu của vùng nông thôn và so sánh với thành thị. Thứ nhất, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn. Đây là đặc trưng rất cơ bản của vùng nông thôn.

Với mọi vùng nông thôn thì nông nghiệp luôn là ngành có vai trò quan trọng (kể cả lâm và ngư nghiệp). Kể cả những vùng mà TTCN và dịch vụ phát triển rất mạnh thì nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng. Bên cạnh đó, nông nghiệp còn thu hút nhiều ngành phát triển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Thứ hai, nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng kém hơn thành thị, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá kém hơn.

Đối với mọi quốc gia thì chỉ tiêu này là khá rõ ràng. Vùng nông thôn có địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn nên hệ thống cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cũng thấp hơn. Thứ ba, nông thôn là vùng có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, khoa học và công nghệ thấp hơn thành thị vì thành thị thường là trung tâm văn hoá và kinh tế của một vùng, do vậy cơ cấu kinh tế phát triển hơn, mức độ đầu tư cao hơn. Hơn nữa do điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hoá - khoa học và kỹ thuật mà thành thị tạo nên sức hút rất lớn đối với nguồn lao động tinh tuý, có trình độ cao ở nông thôn ra lập nghiệp, điều đó cũng góp phần hình thành trung tâm văn hoá, khoa học và công nghệ ở thành thị.

Thứ tư, nông thôn mang tính đa dạng về tự nhiên, kinh tế và xã hội, đa dạng về quy mô và trình độ phát triển…giữa các vùng khác nhau thì tính đa dạng cũng khác nhau. 10 download by : skknchat@gmail.com Thứ năm, một đặc trưng khác của vùng nông thôn mà cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt giữa thành thị và nông thôn đó là tính cộng đồng làng - xã - thôn - bản rất chặt chẽ. Phần lớn các vùng nông thôn có lịch sử phát triển lâu đời hơn thành thị, do đó tính cộng đồng làng xã rất vững chắc. Mỗi làng, mỗi thôn bản hay mỗi vùng nông thôn đều có phong tục tập quán và bản sắc văn hoá riêng.

Điều đó giống như pháp luật bất thành văn mà mọi cư dân phải tuân theo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ