PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Anh Trang 3 Báo Cáo Kháo Luận GVHD: Th.S Chu Bảo Hiệp CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHƯƠNG 6: TÀI LIỆU THAM KHẢO Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Anh Trang 4 Báo Cáo Kháo Luận GVHD: Th.S Chu Bảo Hiệp CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ 2. Khái niệm - Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng ( người xin mở thư tín dụng ) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ 3 (người hưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ 3 ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ 3 này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. Các bên tham gia vào phương thức tín dụng chứng từ : - Người xin mở thư tín dụng (Applicant) là người mà theo yêu cầu của người đó thư tín dụng được phát hành, trong hoạt động xuất nhập khẩu thông thường đó là nhà nhập khẩu, người mua. - Ngân hàng phát hành (Issuing bank or opening bank) là ngân hàng phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của người xin mở thư tín dụng hoặc của người thay mặt họ.
trong hoạt động xuất nhập khẩu thông thường là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nó cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu. Là ngân hàng thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa thuận lựa chọn và được qui định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn. - Mọi hậu quả sinh ra do lỗi của mình, ngân hàng mở thư tín dụng phải chịu trách nhiệm. Ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở thư tín dụng từ 0,125% đến 0,5% trị giá của thư tín dụng(tùy từng ngân hàng) Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Anh Trang 5 Báo Cáo Kháo Luận GVHD: Th.S Chu Bảo Hiệp - Nghĩa vụ cơ bản nhất của ngân hàng phát hành là thanh toán cho người thụ hưởng, nghĩa vụ này được quy định chi tiết tại điều 7, UCP 600 – nghĩa vụ ngân hàng phát hành ) - Người hưởng lợi (Beneficiary): là người được hưởng lợi từ việc phát hành thư tín dụng.
trong hoạt động XNK thường là người xuất khẩu hàng hóa, người bán hoặc bất cứ người nào khác mà người xuất khẩu chỉ định - Ngân hàng thông báo (Advising bank) là ngân hàng thông báo thư tín dụng theo yêu cầu của của ngân hàng phát hành thư tín dụng đó. Trong thực tế thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở thư tín dụng ở nước người xuất khẩu. - Nghĩa vụ chi tiết của ngân hàng thông báo xem chi tiết điều 9,UCP 600 – thông báo thư tín dụng và tu chỉnh ) - Ngoài ra còn có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh - Ngân hàng xác nhận ( confirming bank) là ngân hàng xác nhận thêm vào thư tín dụng theo sự ủy nhiệm hoặc theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Ngân hàng xác nhận sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán.
Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay một ngân hàng khác do người XK yêu cầu. thường là một nh lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. - Nghĩa vụ về ngân hàng xác nhận tại điều 8, UCP 600 – nghĩa vụ ngân hàng xác nhận) - Ngân hàng thông báo (paying bank) có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền cho người xuất khẩu hay chiết khấu hối phiếu. Trường hợp ngân hàng làm nhiệm vụ chiết khấu hối phiếu thì gọi là ngân hàng chiết khấu ( the negotiating bank ).
Nếu địa điểm trả tiền quy định tại Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Anh Trang 6 Báo Cáo Kháo Luận GVHD: Th.S Chu Bảo Hiệp nước người xuất khẩu thì ngân hàng trả tiền thường là ngân hàng thông báo. Trách nhiệm của ngân hàng thanh toán giống như ngân hàng mở thư tín dụng khi nhận bộ chứng từ của người xuất khẩu gửi đến. - Ngân hàng được chỉ định (Nominated bank) là ngân hàng mà ở đó thư tín dụng có giá trị thương lượng hoặc bất cứ ngân hàng nào nếu trong thư tín dụng quy định có thể thương lượng tại bất cứ ngân hàng - Ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank): Thương lượng chiết khấu bộ chứng từ. - Ngân hàng bồi hoàn (Reimbursing Bank): Thanh toán cho Ngân hàng đòi tiền trong trường hợp L/C có chỉ định.
- Ngân hàng xuất trình (Presenting Bank): Xuất trình bộ chứng từ đến ngân hàng được chỉ định trong L/C. - Ngân hàng đòi tiền (Claiming Bank): đòi tiền bộ chứng từ theo sự ủy quyền của các bên thụ hưởng.2 Cơ sở pháp lý của thanh toán tín dụng chứng từ 1.UCP-600/2007/ICC - Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ 2. ISBP - 681/2007/ICC - Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng 3.1 - Bản phụ trương UCP 600 về việc xuất trình chứng thư điện tử 4. URR - 725/2008/ICC - Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo thư tín dụng.
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Anh Trang 7 Báo Cáo Kháo Luận GVHD: Th.S Chu Bảo Hiệp 2. Hoạt động thanh toán quốc tế phải: - Tuân thủ các quy tắc do phòng thương mại quốc tế ban hành như: UCP 600, URC 522, URR 725, ISP 98, ISBP,… - Quy tắc về tập quán và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ ( Uniform customs and practice for documentary credit UCP DC) của ICC. Đến nay UCP đã 5 lần sửa đổi vào 1952,1962,1974,1983 (UCP 400), 1993 (UCP 500). Hiện nay UCP được sử dụng tại 180 nước trên thế giới, 1962 lần đầu tiên được dịch ra tiếng Việt.
- Số hiệu ban hành 1993 có hiệu lực vào ngày 1/1/1994 UCP 600 có hiệu lực vào ngày 1/1/2007 - Tháng 12/1996, trên tinh thần cụ thể hóa điều 19 của UCP 500, ICC đã ban hành quy tắc số 525 thống nhất về bồi hoàn chuyển tiền giữa các ngân hàng với nhau (Uniforms rules for bank to bank reimbursements under documnetary credits URR 525) có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1996. Ở Việt nam bắt đầu thực hiện kể từ ngày 1/7/1996 - Đáp ứng yêu cầu cách xử lý chứng từ điện tử trong tín dụng chứng từ được ICC đề cập trong cuộc họp ngày 24/5/2000 tại Paris, sau 18 tháng nỗ lực thực hiện, ICC cho ra đời văn bản bổ sung e.UCP (được coi là UCP 500.1) có hiệu lực tháng 2/2002 - Đầu 2003, ICC cho ra đời văn bản No.465 ISBP – the international standard banking practice for examination of documentary credits ( thực hành ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ theo tín dụng chứng từ ) - Các điều ước quốc tế liên quan đến thanh toán quốc tế - Ngoài ra tín dụng chứng từ còn được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý như: incoterm, luật hối phiếu,… và các tập quán thương mại quốc tế. Phù hợp với các quy định chính phủ, ngân Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Anh Trang 8 Báo Cáo Kháo Luận GVHD: Th.S Chu Bảo Hiệp hàng nhà nước về quản lý ngoại hối các văn bản liên quan đến thanh toán quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam 2. Sơ Lược về ICC - UCP 600 – Bản Quy Tắc Thực Hành Thống Nhất Mới Về Tín Dụng Chứng Từ UCP là viết tắt của "The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits" (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ).
Bản UCP đầu tiên được ICC phát hành từ năm 1933 với mục đích khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc gia bằng việc xây dựng một bản quy tắc thống nhất cho hoạt động tín dụng chứng từ. Theo đánh giá của các chuyên gia, UCP là bản quy tắc (thông lệ quốc tế) tư nhân thành công nhất trong lĩnh vực thương mại. Ngày nay, UCP là cơ sở pháp lý quan trọng cho các giao dịch thương mại trị giá hàng tỷ đô la hàng năm trên thế giới. UCP đã qua bảy lần sửa đổi và chỉnh lý.
Bản UCP đang được áp dụng hiện nay là UCP 500 (The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits, ICC Publication No. 500) - kết quả của lần sửa đổi thứ sáu, được phát hành năm 1993. Vào tháng 5 năm 2003, Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã ủy quyền cho ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng (ICC Commission on Banking Technique and Practice) bắt đầu xem xét lại UCP 500 để có thể có những sửa đổi cần thiết đáp ứng với tình hình thực tiễn mới. Cũng như những lần sửa đổi trước đây, mục đích chính của lần sửa đổi này là để đáp ứng được sự phát triển trong hoạt động ngân hàng, vận tải và bảo hiểm.
Hơn nữa, cũng cần thiết xem xét lại ngôn ngữ và phong cách đã được sử dụng trong UCP để loại bỏ những cách diễn đạt có thể gây ra sự hiểu nhầm và áp dụng không thống nhất. Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Anh Trang 9 Báo Cáo Kháo Luận GVHD: Th.S Chu Bảo Hiệp Ngay khi công việc xem xét lại được tiến hành, thông qua một số kết quả điều tra toàn cầu, ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng nhận thấy có tới khoảng 70% chứng từ xuất trình theo tín dụng thư đã bị từ chối ở lần xuất trình đầu tiên vì có sai sót. Điều này rõ ràng có ảnh hưởng tiêu cực đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, vốn là một phương thức thanh toán quốc tế truyền thống và có nhiều ưu điểm, vì chi phí tăng lên do các trường hợp phải chịu phí chứng từ bất hợp lệ gia tăng (thông thường mỗi bộ chứng từ bất hợp lệ sẽ bị thu phí từ 50 - 100USD khi thanh toán) và quan trọng hơn là những sai sót chứng từ đó lại tỏ ra không mấy rõ ràng. Do đó, Ban soạn thảo gồm 9 thành viên đã ra đời để sửa đổi UCP 500.
Đồng thời, ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng thành lập Ban cố vấn gồm 41 thành viên là các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và vận tải đến từ 26 nước trên thế giới.