Chương 1: Cơ sở lý luận của hoạt động giao nhận hàng hóa chuyển phát nhanh bằng đường hàng không. Chương 2: Thực trạng hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu chuyển phát nhanh bằng đường hàng không tại công ty TNT-Vietrans. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu chuyển phát nhanh bằng đường hàng không tại công ty TNT-Vietrans giai đoạn 2016-2020. Tuy rằng nội dung của luận án có thể chưa thể hiện một cách triệt để các vấn đề liên quan đến hoạt động giao nhận và quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá nhập khẩu chuyển phát nhanh, nhưng mong rằng khóa luận sẽ góp một phần vào tiến trình hoàn thiện cơ chế quản lý của Nhà nước đối với ngành giao nhận và thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của ngành giao nhận nước nhà.
3 Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Tố Huynh CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA CHUYỂN PHÁT NHANH BẰNG ĐƢỜNG HÀNG KHÔNG.1 Khái niệm về hoạt động giao nhận hàng hóa.1 Khái niệm về hoạt động giao nhận. Hoạt động buôn bán quốc tế là những hoạt động được thực hiện giữa người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau. Sự khác nhau về quốc tịch giữa các chủ thể trong thương mại quốc tế đã dẫn đến việc hàng hoá xuất nhập khẩu phải được chuyên chở qua biên giới của ít nhất một nước. Do đó, để hàng hoá đến tận tay người mua, phải trải qua hàng loạt các quá trình như: đóng gói, bao bì, lưu kho, thông quan xuất nhập khẩu, chuẩn bị giấy tờ, thuê phương tiện vận chuyển, bốc xếp hàng lên phương tiện, chuyển tải hàng hoá ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận.Tất cả những công việc được nêu trên gọi là nghiệp vụ giao nhận.
Giao nhận là tập hợp tất cả các nghiệp vụ liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc đưa hàng hóa từ nơi gửi đến nơi nhận hàng. Thực chất giao nhận là quá trình tổ chức chuyên chở và giải quyết các thủ tục liên quan đến quá trình đó. Giao nhận gắn liền với vận tải nhưng không phải là vận tải. Trước đây, khi sản xuất hàng hóa và lưu thông chưa phát triển thì giao nhận là một khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Việc giao nhận có thể do người gửi hàng (nhà xuất khẩu), người nhận hàng (nhà nhập khẩu) hay do người chuyên chở đảm nhiệm. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của hoạt động buôn bán quốc tế, qui mô sản xuất cũng như chuyên môn hoá ngày càng cao khiến cho nhu cầu vận chuyển hàng hoá tăng dần, thì giao nhận cũng dần dần được chuyên môn hóa, được các tổ chức giao nhận chuyên nghiệp tiến hành và giao nhận đã tách riêng thành một nghề mới. Hiện nay, giao nhận đã trở thành ngành kinh doanh dịch vụ rất phát triển, đánh dấu cho sự ra đời của các tổ chức và các điều ước quốc tế về giao nhận như: IATA, FIATA, IMO. Dịch vụ giao nhận (Freight Forwarding Service), theo Quy tắc mẫu của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận ( FIATA) về dịch vụ giao nhận là: “Bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả 4 Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Tố Huynh vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá.” Dịch vụ giao nhận theo điều 163, Luật Thương mại Việt Nam là: “Những hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng)”.
Người làm dịch vụ giao nhận khi nhận vận chuyển hàng hoá phải tuân theo quy định của pháp luật chuyên ngành về vận tải. Trong xu thế thương mại toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của nhiều hình thức vận tải mới. Ngày nay, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đóng vai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế. Những dịch vụ mà người giao nhận thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chổ, đóng hàng, nơi dùng để kiểm tra hàng hoá, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện những dịch vụ chuyên nghiệp hơn như tư vấn chọn tuyến đường vận chuyển, chọn tàu vận tải, đóng gói bao bì hàng hoá.2 Khái niệm về ngƣời giao nhận.
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay còn gọi là người giao nhận (Forwarder/ Freight Forwarder/ Forwarding Agent). Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất cứ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá. Theo Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận FIATA : “Người giao nhận là người lo toan để hàng hoá được chuyên chở theo hợp đồng uỷ thác và hành động vì lợi ích của người uỷ thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hoá …” Theo ủy ban Kinh Tế Xã Hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): “ Người giao nhận là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục Hải Quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng” Định nghĩa này nhắm vào chức năng chính 5 Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Tố Huynh của người giao nhận là sử dụng hợp lý mạng lưới vận tải và các loại hình vận tải để đưa hàng đến đúng địa điểm.
Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên theo Luật Thương mại Việt Nam điều 164 năm 1997 thì quy định cụ thể hơn về người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa. Người giao nhận phải có các nghiệp vụ chuyên môn như: - Có thể kết hợp nhiều phương thức vận tải khác nhau. - Thông qua dịch vụ gom hàng mà vận dụng được tối đa dung tích và trọng tải của các công cụ vận tải.
- Biết kết hợp giữa vận tải, giao nhận, xuất nhập khẩu và liên hệ tốt với các tổ chức liên quan đến vận chuyển như: hải quan, đại lý hãng tàu, bảo hiểm, ga, cảng. - Người giao nhận còn tạo điều kiện cho người kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động có hiệu quả nhờ vào dịch vụ giao nhận của mình. - Nhà xuất nhập khẩu có thể sử dụng kho bãi của người giao nhận hay của người giao nhận đi thuê từ đó giảm được chi phí kho bãi. - Nhà xuất nhập khẩu giảm được chi phí quản lý hành chính, bộ mặt tổ chức đơn giản, có điều kiện tập trung vào kinh doanh xuất nhập khẩu.
Trước đây, người giao nhận thường chỉ làm đại lý (Agent) thực hiện một số công việc do các nhà xuất nhập khẩu (XNK) uỷ thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng. Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ kỹ thuật trong ngành vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn. Ngày nay, người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại và vận tải quốc tế. Người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá.
Ở các nước khác nhau, người kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi tên khác nhau: Đại lý hải quan (Customs House Agent), Môi giới hải quan (Customs Broker), Đại lý thanh toán (Clearing Agent), Đại 6 Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Tố Huynh lý gửi hàng và giao nhận (Shipping and Forwarding Agent), Người chuyên chở chính (Principal Carrier). Hoạt động giao nhận vận tải là một khâu không thể thiếu trong quy trình xuất nhập khẩu hàng hoá. Nó đảm trách một phần công việc trong quá trình lưu thông của hàng hoá, chuyên chở và thực hiện một số nghiệp vụ khác để đưa hàng hoá từ nơi người gửi hàng đến nơi người nhận hàng. Vì thế, hoạt động giao nhận vận tải là chiếc cầu nối quan trọng giữa người gửi hàng và người nhận hàng.
Bằng việc thuê hay uỷ thác cho một người thứ ba có chuyên môn về hoạt động giao nhận, người gửi hàng không những giảm bớt một số công việc, chia sẻ về mặt trách nhiệm và rủi ro mà còn tiết kiệm thời gian và giảm các chi phí, do không phải đầu tư vào một số điều kiện cơ sở hạ tầng cơ bản phục vụ cho hoạt động giao nhận. Bên cạnh đó, với sự áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong lĩnh vực giao nhận hàng hóa, hoạt động giao nhận đưa hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng với tốc độ ngày càng nhanh hơn, an toàn hơn và đảm bảo chất lượng của hàng hoá hơn. Cùng với sự áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực này cũng tác động làm nâng cao hiệu quả dịch vụ và giảm chi phí của hoạt động giao nhận để nhằm phục vụ khách hàng ở mức tốt nhất. Qua đó mà hoạt động giao nhận sẽ góp phần làm giảm giá thành của sản phẩm và thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế.
Do vậy, hoạt động giao nhận đang ngày càng đóng vai trò quan trọng thiết yếu trong hoạt động thương mại quốc tế, kéo theo đó là vai trò và trách nhiệm của người giao nhận ngày càng lớn trong mối quan hệ với người gửi hàng và người nhận hàng.3 Phạm vi hoạt động. Khi mà khái niệm “dịch vụ giao nhận” được hiểu theo một nghĩa rộng hơn thì phạm vi hoạt động của người giao nhận cũng được mở rộng. Tuỳ theo sự uỷ nhiệm của người gửi hàng (hay người nhận hàng), người giao nhận có thể tham gia nhiều tác nghiệp trong quy trình thực hiện hợp đồng. Thông thường, người giao nhận có thể trực tiếp hoàn thành các công việc đó hoặc cũng có thể uỷ thác cho người thứ ba hay đại lý thực hiện.