Chương 1 : Giới thiệu chung Chương 2 : Cơ sở lý luận Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu Chương 4 : Tổng quát tập đoàn Zwick Roell, văn phòng đại diện Zwick Việt Nam và thực trạng về hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh sản phẩm của công ty Zwick tại thị trường Việt Nam Chương 5 : Kiến nghị, giải pháp và đề xuất nhằm khắc phục để nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh sản phẩm tại thị trương Việt Nam ĐINH QUỲNH MY 3 Chương 6 : Tài liệu tham khảo ĐINH QUỲNH MY 4 Chương 2 : Cơ sở lý luận 2. Khái quát về cạnh tranh của doanh nghiệp a. Khái niệm cạnh tranh: Thuật ngữ "cạnh tranh" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định. Khái niệm cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với doanh nghiệp là lợi nhuận. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Các quan điểm về năng lực cạnh tranh của DN: DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN (Report, 1994). Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp (Anh) đưa ra định nghĩa: "Đối với DN, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời ĐINH QUỲNH MY 5 điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các DN khác". Tuy nhiên, khái niệm NLCT đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất, trong luận án này xin trích dẫn một số khái niệm chủ yếu đề cập dưới góc độ năng lực cạnh tranh của DN nhằm làm rõ hơn về vấn đề này. Tổ chức Hợp tác và và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh tranh là “Khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”. Trên góc độ tổng quát lấy con người làm trung tâm, khái niệm NLCT được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) quan niệm: “Đối với DN, khả năng cạnh tranh có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trưởng mới, mang lại giá trị cho các cổ đông.
Đối với xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh là tạo ra việc làm mới và điều kiện sống tốt hơn”. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Quan điểm khả năng cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Việc đưa ra một khái niệm chung nhất về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong tình hình kinh tế luôn có sự thay đổi, biến động là không hề đơn giản.
Có nhiều tài liệu viết về NLCT mà một trong những tài liệu quan trọng nhất mang tính kinh điển đó là lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter. Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt lợi nhuận cao của DN. Theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các DN (Porter, 1985, 1998). Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh.
Để có thể cạnh tranh thành công các DN phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để ĐINH QUỲNH MY 6 đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các DN cần ngày càng đạt được những lợi thế canh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu quả hơn (Porter, 1985,1998, tr. Quan niệm của Porter (1985, 1998) không chỉ đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh mà còn bao hàm cả việc DN phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Nói cách khác, DN phải liên tục duy trì mức lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường.
Việc hạ thấp giá thành sản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh theo quan niệm mang tính dài hạn này của Porter cũng như đại đa số các nhà nghiên cứu khác không bao gồm việc hạ thấp giá thành bằng những biện pháp có tính tiêu cực như cắt giảm lương nhân viên, cắt giảm chí phí bảo hộ lao động, cắt giảm chi phí phúc lợi, chi phí môi trường,. Năng lực cạnh tranh phải gắn liền với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Một số tác giả trong nước dựa trên quan điểm của Porter (1985,1998) để đưa ra định nghĩa trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của mình như: Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững ( Tuấn, N. T (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN.
C (2006) thì năng lực cạnh tranh của DN là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Năng lực cạnh tranh của DN dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của DN tạo ra lợi thế cạnh tranh của DN. Năng lực cạnh tranh của một công ty là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn ĐINH QUỲNH MY 7 lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó. Như vậy, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Nó trước hết phải được tạo ra từ thực lực của DN ( Sanchez & Heene,1996, 2004) Từ những quan niệm khác nhau trên, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực về mọi hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ chất lượng cao với chi phí thấp, được thị trường chấp nhận. Nhờ đó doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, đảm bảo việc thu lợi nhuận, phát triển thị trường và thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Nâng cao khả năng cạnh tranh là điều kiện cần để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trường. Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Theo quan điểm của Kinh tế chính trị học thì "cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền kinh tế thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá".
Theo Các Mác cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận tối đa. Tiếp cận quan điểm khả năng cạnh tranh cấp ngành, cấp công ty của M. Quan điểm này dựa trên quản trị chiến lược phản ánh trong các cuốn sách của ông, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại của công ty đó. Với cách tiếp cận này khả năng cạnh tranh được quy định bởi các yếu tố sau: ĐINH QUỲNH MY 8 - Số lượng các doanh nghiệp mới tham gia.
- Sự có mặt của các sản phẩm thay thế. - Vị thế của khách hàng. - Uy tín của nhà cung ứng. - Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu các yếu tố trên sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp trong từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển của công ty cũng như của nền kinh tế từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản phẩm là quan điểm dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất. Như vậy khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào chi phí sản cuất. Đây là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh.
Theo quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Westgren thì khả năng cạnh tranh của một ngành, một công ty được thể hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận trong các thị trường trong nước và ngoài nước. Như vậy thị trường và lợi nhuận là hai chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chúng có quan hệ tỷ lệ thuận, lợi nhuận và thị phần càng lớn thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao. Từ những quan điểm trên có thể thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau về khả năng cạnh tranh nhưng đều có liên quan đến hai khía cạnh là chiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận.
Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh: Nâng cao khả năng cạnh tranh luôn là mối quan tâm hàng đầu của một doanh nghiệp. Chính vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau.