CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN TỐI ƯU HÓA MÁY TÌM KIẾM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chung: 1.Khái niệm về E-Marketing Qua tìm hiểu về Marketing và các học thuyết, tôi đã thu thập được một số khái niệm của các chuyên gia Marketing hàng đầu trên thế giới: Theo ông Philip Kotler- người đi tiên phong trong lĩnh vực marketing hiện đại: “Marketing điện tử (E-marketing) là quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối, và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân dựa trên các phương tiện điện tử và Internet”. Theo bà Judy Strauss: “Marketing điện tử là sự ứng dụng hàng loạt CNTT cho việc: Chuyển đổi chiến lược marketing nhằm gia tăng giá trị khách hàng thông qua những chiến lược phân đoạn, mục tiêu, khác biệt hóa và định vị hiệu quả hơn.
Lập kế hoạch và thực thi các chương trình về sản phẩm, phân phối và xúc tiến thương mại hiệu quả hơn. Tạo ra những phương thức trao đổi mới giúp thỏa mãn nhu cầu và xúc tiến thương mại hiệu quả hơn. Marketing nâng cao tính hiệu quả các chức năng marketing truyền thống trên cơ sở ứng dụng CNTT”. Từ các ý kiến của các chuyên gia kể trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chủ quan về E-marketing như sau: E- Marketing là việc ứng dụng công nghệ mạng máy tính, các phương tiện điện tử vào việc nghiên cứu thị trường, hỗ trợ phát triển sản phẩm, phát triển các mô hình kinh doanh mới… nhằm mục đích cuối cùng là đưa sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đến người tiêu dùng một cách nhanh chóng và hiệu quả, tăng doanh thu, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp.2 Tổng quan về máy tìm kiếm: SE(Search Engine) hay còn gọi là máy tìm kiếm là một trang Web cho phép người dùng tìm kiếm nội dung số của các trang Web trên Internet.
Cơ chế hoạt động của máy tìm kiếm: máy tìm kiếm sẽ dò nội dung tất cả các trang Web trên Internet và cập nhật nội dung văn bản text vào cơ sở dữ liệu khổng lồ của mình mà người dùng có thể tìm kiếm thông tin trên đó. Để làm việc này các máy tìm kiếm thường gửi các Web crawler, web spider hay web robot (ví 6 dụ google bot của Google – Yahoo slurp của Yahoo) đến các trang cần đánh chỉ số. Các bọ tìm kiếm này sẽ truy cập phân tích và gửi nội dung về các máy tìm kiếm. Máy tìm kiếm sắp xếp các trang Web dựa vào nội dung HTML và độ uy tín của trang và tiến hành hiển thị cho người dùng thông qua thứ tự sắp xếp này.
Khái niệm liên quan trực tiếp đến tối ưu hóa máy tìm kiếm của Google 1. SEO được hiểu là phương pháp hay tập hợp những phương pháp tối ưu hóa website, làm cho website trở lên thân thiện với máy chủ tìm kiếm, nhằm nâng cao thứ hạng website của bạn trên các công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Bing,… khi người dùng tìm kiếm với các keyword (từ khóa) liên quan. SEO cũng được coi là một lĩnh vực trong việc tiếp thị, truyền thông và quảng bá thương hiệu của công ty đến với khách hàng một cách lâu dài và bền vững. Thông qua SEO, các nhà quản trị có thể đưa trang web của họ lên vị trí cao trong SERP (Search engine result page – trang kết quả tìm kiếm) với những từ khóa liên quan nhằm tăng lượt truy cập và tính cạnh tranh với đối thủ.2 Các hình thức hoạt động của SEO: SEO trong thời gian gần đây được rất nhiều doanh nghiệp quan tâm và phát triển, cùng với đó là sự đa dạng các loại hình dịch vụ SEO và hình thức SEO.
Xét về hình thức SEO thì hiện tại đang có 5 hình thức SEO phổ biến. SEO Sales – SEO bán hàng SEO bán hàng đang là hình thức SEO phổ biến nhất giờ tại Việt Nam. Với việc thương mại điện tử đang ngày càng phát triển, xu thế mua hàng online càng ngày càng tăng cao thì việc SEO các sản phẩm bán hàng ngày một nhiều và đóng vai trò quyết định trong chiến dịch Marketing của các nhà cung cấp sản phẩm. Với các nhà bán hàng dùng SEO Sales thường giúp tăng doanh số bán hàng từ 2-10 lần, luôn có nguồn khách hàng và uổng đầu tư cho marketing sẽ rất tiết kiệm.
SEO Traffic SEO Traffic là hình thức SEO tăng lượng truy cập, bình thường lượng truy cập website thường đến từ các nguồn: ghé thăm trực tiếp website của công ty, trên các trang mạng xã hội, thông qua các đối tác trung gian… 7 Nhiệm vụ của người làm SEO sẽ bằng các kỹ năng chuyên môn của mình giúp tăng nguồn khách truy cập vào Website thông qua các nguồn trên. Lưu lượng khách truy cập cần đúng đối tượng sẽ mang lại hiệu quả cho Website. SEO Branding SEO Branding là SEO thương hiệu. Đây là loại hình dịch vụ SEO thường được vận dụng cho các công ty, doanh nghiệp lớn.
Mục đích SEO Branding giúp doanh nghiệp làm thương hiệu website tốt trên thị trường online và hướng khách hàng tiềm năng nhớ đến thương hiệu công ty, doanh nghiệp. Thực hành tốt SEO Branding giúp định vị thương hiệu của mình trong lòng khách hàng, khi họ tìm mua sản phẩm hoặc tìm thông tin nào đó thì họ thêm các từ khóa có thương hiệu mình vào công cụ tìm kiếm và kết quả trả về chỉ hiển thị các nội dung liên quan đến công ty, doanh nghiệp của mình. SEO Trends SEO Trends hay còn gọi là SEO xu hướng. Có 2 xu hướng thường được chọn là thiên hướng đang hot và xu hướng sắp xảy ra.
Khuynh hướng đang hot là các sự kiện nóng hổi hằng ngày như các cuộc thi truyền hình thực tế như: Giọng hát Việt, Gương mặt thân quen … hay các nhân vật đang được nhiều người quan tâm như : Đông Nhi, Trấn Thành, Ngọc Trinh…. xu hướng sắp xảy ra là hình thức SEO đi trước đón đầu như là SEO các từ khóa liên quan đến iphone 7s, …. Với hình thức SEO này giúp mang lại khá nhiều Traffic tuy vậy mức độ canh tranh khá gay gắt và chỉ hiệu quả trong một khoảng thời gian khá ngắn. SEO Crisis – Xử lý khủng hoảng SEO Có một số cá nhân hoặc doanh nghiệp bị các đơn vị báo chí truyền thông có những bài viết nói không tốt làm ảnh hưởng đến thương hiệu và uy tín.
Lúc đó các cá nhân, doanh nghiệp nên cần đến các đơn vị cung cấp dịch vụ SEO Crisis này để họ đẩy lùi các bài viết không tốt đó qua trang 2,3 Google (giúp ít người thấy bài viết đó hơn) và thay thế trên trang 1 Google là các bài viết tốt về cá nhân, doanh nghiệp đó. Một số lí thuyết về tối ưu hóa máy tìm kiếm Google 1. Tổng quan về công cụ tìm kiếm (SE): Khi nói tới Search Engine, ta thường nghĩ ngay đến các dịch vụ nổi tiếng như Google Search, hay MSN Search, v.Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm trong một website cụ thể cũng được coi là Search Engine. Xét về mặt bản chất, tìm kiếm thông 8 tin trên mạng Internet hay trên website nào đó đều là tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu có sẵn.
Mặc dù vậy, việc thực hiện trên Internet khó hơn rất nhiều bởi miền tìm kiếm là vô cùng lớn. Khái niệm công cụ tìm kiếm (SE) Định nghĩa Search Engine: “Search Engine (SE) là phần mềm cung cấp các địa chỉ Web có chứa một hay nhiều thông tin, từ khoá mà người dùng cần tìm kiếm. Thuật ngữ search engine đôi lúc được dùng không chính xác để chỉ các chỉ mục Web do các biên tập viên biên soạn.” Những cỗ máy tìm kiếm này sử dụng một phần mềm gọi là Robot, hay Spider, hay Bot hoặc Crawler để tự động index và lập chỉ mục tất cả các website trên đường chúng đi qua. Sau đó, những thông tin này được gửi về Trung tâm xử lí dữ liệu của cỗ máy tìm kiếm để xử lý, sàng lọc, phân loại và đưa vào lưu trữ.
Khi một người dùng internet cần tìm một nội dung, họ sẽ đánh từ khóa và nhiệm vụ của cỗ máy tìm kiếm là lục tìm trên danh bạ của nó các kết quả liên quan (đã lập chỉ mục trước đó). Công việc này được tiến hành hoàn toàn tự động và có thứ tự ưu tiên khác nhau cho từng site khác nhau. Các site tốt, nội dung chất lượng (như các trang báo điện tử, các blog lớn, các diễn đàn đông thành viên) sẽ được index thường xuyên hơn. Chính vì vậy, kết quả tìm kiếm thường hiển thị Top đầu đối với những site lớn 1.
Cách thức hoạt động của SE: Một công cụ tìm kiếm hoạt động trình tự theo các bước sau: - Crawling - thu thập thông tin - Indexing - lập chỉ mục - Searching - tìm kiếm thông tin SE làm việc bằng cách lưu trữ thông tin về nhiều trang web. Những thông tin này sẽ được thu thập bởi các Spider (chính là Web crawling) và nội dung của mỗi trang sẽ được phân tích để SE quyết định nên index cái nào (ví dụ, những từ khoá được thu thập từ các titles, heading hay một số trường đặc biệt gọi là meta tags) để trả về những thông tin mà người tìm kiếm mong muốn nhất. Dữ liệu về những trang Web sẽ được lưu trữ tại các cơ sở dữ liệu chỉ mục để sử dụng cho những lần truy vấn sau. Một số SE, như Google, sẽ lưu trữ toàn bộ hay một phần trang gốc (được 9 xem như một cache) cũng như thông tin về trang Web đó, trái lại với một số khác, như AltaVista, sẽ lữu trữ tất cả các từ của những trang mà nó tìm thấy.
Khi người dùng nhập vào các SE một truy vấn (chủ yếu là các keyword), các SE này sẽ kiểm các index của nó và cung cấp danh sách các trang Web phù hợp nhất, thường là các cụm từ ngắn hay một phần của một đoạn văn bản. Hầu hết các SE đều sử dụng các Boolean Operators (toán tử luận lý) như AND, OR và NOT để xác định các search query (truy vấn tìm kiếm). Cách thức SE xếp hạng website: Khi người dùng tìm kiếm với các cỗ máy tìm kiếm, thì gần như ngay lập tức, các cỗ máy tìm kiếm sẽ tìm trong cơ sở dữ liệu hàng triệu trang của nó lấy một hay nhiều kết quả phù hợp nhất cho người tìm. Những kết quả phù hợp hơn sẽ được liệt kê trên cùng.
Vậy, bằng cách nào những cỗ máy tìm kiếm có thể tìm kiếm, lục lọi trong đống hồ sơ hàng trăm triệu trang để tìm ra những kết quả liên quan? Câu trả lời là các SE có những quy tắc nhất định, được biết đến như những thuật toán đặc biệt.