Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Bích Ngọc (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018) được xây dựng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, đồng thời làm phát sinh nhiều vấn đề cấp bách về môi trường, y tế và an sinh xã hội đối với các nhóm yếu thế như phụ nữ, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và người nhiễm HIV/AIDS. Trước nhu cầu chung sức giải quyết các áp lực xã hội, mô hình doanh nghiệp xã hội (DNXH) ra đời như một giải pháp kết hợp giữa hoạt động kinh doanh và mục tiêu phục vụ cộng đồng. Mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã chính thức thừa nhận địa vị pháp lý của DNXH, các quy định pháp luật điều chỉnh loại hình này vẫn còn mang tính chung chung, bộc lộ nhiều bất cập và chưa phát huy tối đa tiềm năng phát triển trong thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về mô hình DNXH và lịch sử hình thành, phát triển loại hình doanh nghiệp này trên thế giới và tại Việt Nam.
  2. Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức, quản lý và hoạt động của DNXH.
  3. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và chính sách phát triển DNXH của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật về DNXH tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của DNXH được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp lý về DNXH trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, các nghị định, thông tư hướng dẫn đang có hiệu lực thi hành và các chính sách phát triển liên quan tại Việt Nam, kết hợp khảo sát kinh nghiệm lập pháp tại một số quốc gia tiêu biểu (Anh, Hoa Kỳ, Ý, Tây Ban Nha, Đức, Áo, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các khái niệm lý luận, khung pháp lý chuyên ngành và hệ thống dữ liệu học thuật:

  • Khái niệm và khung lý thuyết: Tác giả phân tích khái niệm DNXH thông qua định nghĩa của các tổ chức quốc tế và khu vực như Quỹ Schwab, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Văn phòng DNXH Thái Lan, Đạo luật khuyến khích DNXH Hàn Quốc, House Bill số 6085 của Philippines, Chiến lược phát triển DNXH năm 2002 của Chính phủ Anh, cùng định nghĩa của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) tại Việt Nam.
  • Văn bản quy phạm pháp luật: Hệ thống văn bản làm nền tảng gồm Hiến pháp năm 2013, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Luật Phá sản số 51/2014/QH13, Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT, Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT, cùng các đạo luật chuyên ngành như Luật Bảo vệ môi trường 2014, Luật Trẻ em 2016, Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009, Luật Phòng, chống nhiễm HIV/AIDS 2006, Luật Phòng, chống ma túy, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm y tế.
  • Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự phát triển của DNXH theo tiến trình lịch sử; kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê và phương pháp tổng hợp.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ các công trình nghiên cứu đã công bố, bao gồm sách chuyên khảo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Hội đồng Anh, CSIP (năm 2012, 2016), báo cáo khảo sát từ thiện của Quỹ Châu Á (2011), cùng các bài viết học thuật trên các tạp chí chuyên ngành luật của TS. Phan Thị Thanh Thủy và ThS. Vũ Thị Hòa Như.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp xã hội

Chương 1 tập trung làm rõ nguồn gốc lý luận, lịch sử hình thành và các đặc trưng pháp lý cơ bản cấu thành mô hình DNXH:

  • Khái niệm DNXH: Phân tích điểm chung giữa các định nghĩa quốc tế và trong nước. Bản chất của DNXH là việc áp dụng các giải pháp và mô hình kinh doanh để thực hiện sứ mệnh xã hội/môi trường, lấy mục tiêu xã hội làm chủ đạo và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ cộng đồng thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông.
  • Lịch sử phát triển trên thế giới:
    • Mô hình đầu tiên được ghi nhận xuất hiện năm 1665 tại London (Anh) do Thomas Firmin khởi xướng trong thời kỳ Đại dịch (Great Plague), thành lập xí nghiệp cung cấp nguyên liệu tạo việc làm cho 1.700 công nhân nghèo và chuyển lợi nhuận cho quỹ từ thiện.
    • Cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19: Xuất hiện trường dạy dệt vải tại Liverpool (1790), các dự án nhà ở xã hội với mức trần lợi nhuận 5%, cùng sự ra đời của Hợp tác xã (Co-op), hội ái hữu (Provident Society) và làng nghề (Industrial Society).
    • Thế kỷ 20: Hoạt động DNXH trầm lắng dưới sự chi phối của thuyết kinh tế Keynes và mô hình Nhà nước phúc lợi, sau đó bùng nổ trở lại từ năm 1979 dưới thời Thủ tướng Anh Margaret Thatcher với chủ trương giảm bớt vai trò bao cấp trực tiếp của Nhà nước.
  • Lịch sử phát triển tại Việt Nam: Được phân kỳ qua 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn trước Đổi mới (trước 1986): Gắn liền với sở hữu tập thể dưới mô hình Hợp tác xã (HTX). Đến năm 1987, cả nước có gần 74.000 HTX, trong đó nhiều HTX tiểu thủ công nghiệp (mây tre, đan thêu, may mặc) được lập ra nhằm giải quyết việc làm cho người khuyết tật.
    • Giai đoạn 1986 - 2010: Thời kỳ Đổi mới và hội nhập sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận (1994). Giai đoạn 2005 - 2010 ghi nhận tổng vốn ODA cam kết đạt 31 tỷ USD. Khung pháp lý bắt đầu mở rộng qua Nghị định 35-HĐBT (1992), Nghị định 71/1998/NĐ-CP, Nghị định 177/1999/NĐ-CP và Nghị định 148/2007/NĐ-CP, tạo điều kiện cho hơn 1.000 tổ chức phi chính phủ (NGO), 320 hiệp hội quốc gia và 2.150 hội tự nguyện hoạt động dựa trên tài trợ quốc tế.
    • Giai đoạn từ 2010 đến nay: Các nguồn viện trợ quốc tế sụt giảm, thúc đẩy các tổ chức NGO chuyển dịch mô hình sang tự chủ tài chính bằng hoạt động kinh doanh thị trường với sự hỗ trợ của CSIP, Spark và Hội đồng Anh.
  • Năm đặc điểm cơ bản của DNXH:
    1. Phải có hoạt động kinh doanh: Hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ bình đẳng trên thị trường nhằm tạo doanh thu bù đắp chi phí (thường từ 50% - 70% nguồn vốn), đảm bảo tính độc lập tài chính.
    2. Đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu: Sứ mệnh giải quyết vấn đề xã hội, môi trường được công khai minh bạch ngay từ khi thành lập.
    3. Tái phân phối lợi nhuận: Lợi nhuận không chia cho cá nhân mà ưu tiên giữ lại tái đầu tư cho mục tiêu xã hội đã cam kết.
    4. Sở hữu mang tính xã hội: Cơ cấu quản trị cởi mở, áp dụng nguyên tắc dân chủ (mỗi thành viên một phiếu biểu quyết, không phụ thuộc tỷ lệ góp vốn).
    5. Phục vụ nhu cầu của Nhóm đáy (Bottom of Pyramid - BoP): Cung ứng việc làm và dịch vụ thiết yếu cho đối tượng yếu thế, nghèo khó, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS và người mãn hạn tù.

Chương 2: Doanh nghiệp xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam

Chương 2 phân tích chi tiết thực trạng các quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh DNXH tại Việt Nam:

  • Cơ sở pháp lý và bản chất: Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 xác định DNXH dựa trên hai tiêu chí pháp lý bắt buộc: (i) Đăng ký thành lập theo Luật Doanh nghiệp với mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; (ii) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu đã đăng ký.
  • Quyền và nghĩa vụ của DNXH:
    • Quyền và nghĩa vụ chung: Hưởng đầy đủ các quyền kinh doanh theo Điều 7 và chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ chung của doanh nghiệp theo Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2014.
    • Quyền và nghĩa vụ đặc thù: Được xem xét hỗ trợ cấp giấy phép, chứng chỉ; được huy động và nhận tài trợ (trong nước và quốc tế) để bù đắp chi phí quản lý, vận hành. Nghĩa vụ duy trì mục tiêu đã đăng ký, không sử dụng tài trợ sai mục đích và định kỳ báo cáo hoạt động hàng năm khi nhận ưu đãi.
  • Quyền thành lập và hình thức pháp lý: Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập DNXH, trừ các đối tượng bị cấm theo khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 và khoản 3 Điều 130 Luật Phá sản 2014. DNXH được quyền lựa chọn một trong 4 loại hình: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty TNHH (1 thành viên hoặc 2 thành viên trở lên), và Công ty cổ phần.
  • Thủ tục đăng ký và quản trị doanh nghiệp:
    • Trình tự thành lập trải qua 4 giai đoạn theo Nghị định 78/2015/NĐ-CP và Nghị định 96/2015/NĐ-CP. Điểm đặc thù là DNXH phải công khai "Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường" trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và được phép bổ sung cụm từ "xã hội" vào tên riêng.
    • Quản trị DNXH tuân thủ khung quản trị chuẩn theo từng loại hình doanh nghiệp tương ứng do luật chưa có thiết chế quản trị riêng biệt.
  • Chính sách hỗ trợ và tiếp nhận tài trợ: Tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài và tài trợ trong nước (bằng tiền, tài sản hoặc hỗ trợ kỹ thuật). Quy trình tiếp nhận bắt buộc phải lập thành văn bản và thông báo cho cơ quan quản lý cấp tỉnh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký kết.
  • Tổ chức lại, giải thể và phá sản: Áp dụng các quy định chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình như doanh nghiệp thông thường. Khi giải thể, số dư tài sản hoặc tài chính từ nguồn tài trợ chưa sử dụng hết bắt buộc phải hoàn trả cho bên tài trợ hoặc chuyển giao cho DNXH khác có mục tiêu tương tự.

Chương 3: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam

Chương 3 tổng hợp kinh nghiệm lập pháp quốc tế và chỉ ra các khoảng trống pháp lý của Việt Nam:

  • Kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế:
Quốc gia Chính sách ưu đãi thuế dành cho Doanh nghiệp xã hội
Ý Lợi nhuận tái đầu tư của tổ chức công ích chịu thuế suất ưu đãi 12,5% (thay vì thuế suất tiêu chuẩn 40%).
Tây Ban Nha Miễn thuế đối với các khoản tài trợ không phát sinh từ hoạt động kinh tế; miễn thuế thu nhập kinh tế liên quan nếu lợi nhuận dưới 20% tổng thu; đánh thuế ưu đãi 10% đối với thu nhập kinh tế không liên quan; miễn thuế GTGT.
Vương quốc Anh Miễn thuế thu nhập đối với lợi nhuận tái đầu tư vào mục tiêu ban đầu của tổ chức từ thiện; giảm 80% thuế bất động sản.
Cộng hòa Áo Miễn thuế thu nhập từ hoạt động kinh tế đối với công ty TNHH phi lợi nhuận phục vụ mục đích công ích và không làm méo mó cạnh tranh.
CHLB Đức Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho tổ chức hoạt động vì cộng đồng, phi lợi nhuận và không độc quyền.
Hoa Kỳ Nhà đầu tư góp vốn vào DNXH được miễn thuế thu nhập theo quy định pháp luật.
Thái Lan Trích ngân sách 3% từ nguồn thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào thuốc lá và vũ trường để hỗ trợ quỹ DNXH.
  • Kinh nghiệm về thể chế và loại hình doanh nghiệp:
    • Vương quốc Anh: Ban hành Chiến lược phát triển DNXH (2002), Kế hoạch hành động 2006 liên kết 12 bộ ngành với gói ngân sách 315 triệu bảng Anh. Phát triển mô hình Công ty vì lợi ích cộng đồng (Community Interest Company - CIC) từ năm 2005 với cơ chế "tài sản khóa" (lock assets) ngăn chặn chuyển dịch tài sản ra bên ngoài. Bộ máy quản lý chuyển giao qua các thời kỳ: Ban DNXH (SEnU) thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp (2002) $\rightarrow$ Văn phòng Khu vực thứ Ba (2006) $\rightarrow$ Văn phòng Xã hội Dân sự thuộc Văn phòng Nội các (2010).
    • Hoa Kỳ: Đa dạng hóa loại hình pháp lý gồm tổ chức phi lợi nhuận theo khoản 501(c)(3) Luật Thuế thu nhập, công ty TNHH lợi nhuận thấp (L3C), công ty cổ phần, công ty hợp danh.
    • Ý và Tây Ban Nha: Thành lập cơ quan điều phối chuyên trách cấp quốc gia (Bộ Lao động và các vấn đề xã hội tại Ý; Hội đồng Phát triển Kinh tế Xã hội tại Tây Ban Nha với mạng lưới hỗ trợ trực tuyến và 100 công chức chuyên trách).
  • Hạn chế của pháp luật Việt Nam:
    • Tiêu chí định lượng 51% lợi nhuận tái đầu tư cứng nhắc, chưa có hướng dẫn rõ ràng về cách thức giám sát việc thực hiện cam kết xã hội.
    • Chưa ghi nhận các hình thức pháp lý chuyên biệt (như mô hình CIC hay L3C).
    • Hệ thống văn bản thiếu đồng bộ; các chính sách ưu đãi thuế, đất đai và tiếp cận vốn tín dụng chưa được cụ thể hóa trong các luật thuế chuyên ngành.
    • Thiếu một cơ quan đầu mối quốc gia chịu trách nhiệm điều phối và hỗ trợ phát triển khu vực DNXH.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận hệ thống hóa toàn bộ khung lý luận và thực trạng pháp lý điều chỉnh mô hình DNXH tại Việt Nam với các đóng góp cụ thể:

  • Hệ thống hóa số liệu và cơ sở pháp lý: Làm rõ quá trình chuyển dịch của khu vực kinh tế xã hội tại Việt Nam qua 3 thời kỳ lịch sử, từ 74.000 HTX năm 1987 đến hơn 1.000 NGO trong giai đoạn tiếp nhận 31 tỷ USD vốn ODA (2005 - 2010), giải thích nguồn gốc thúc đẩy sự ra đời của Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thực thi: Phân tích sự thiếu đồng bộ giữa quy định chung của Luật Doanh nghiệp 2014 với các luật thuế và pháp luật chuyên ngành, dẫn đến tình trạng DNXH được công nhận về mặt danh nghĩa nhưng chưa tiếp cận được ưu đãi thực chất.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật: Xây dựng nghị định hướng dẫn chi tiết các tiêu chí nhận diện, quy trình kiểm tra và cơ chế hậu kiểm việc thực hiện Cam kết mục tiêu xã hội, môi trường.
    2. Thành lập cơ quan điều phối chuyên trách: Học tập mô hình của Anh và Tây Ban Nha để thiết lập cơ quan đầu mối quản lý, theo dõi dữ liệu và kết nối nguồn lực cho DNXH.
    3. Cụ thể hóa chính sách ưu đãi thuế và tài chính: Sửa đổi các luật thuế chuyên ngành nhằm ban hành khung miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế bất động sản cho phần lợi nhuận tái đầu tư và ưu đãi thuế cho các nhà đầu tư góp vốn vào DNXH.
    4. Xây dựng cơ chế mở và đa dạng hóa loại hình: Tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho việc chuyển đổi giữa các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tổ chức phi chính phủ sang DNXH.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lý luận và rà soát quy phạm pháp luật thực định tại thời điểm năm 2018 (trọng tâm là Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP); chưa triển khai khảo sát định lượng diện rộng về số lượng DNXH đăng ký thực tế trên toàn quốc do nguồn cơ sở dữ liệu thời điểm này còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động thực tiễn sau khi áp dụng các quy định sửa đổi của Luật Doanh nghiệp; nghiên cứu cơ chế đánh giá tác động xã hội hoàn vốn đầu tư (SROI - Social Return on Investment) và xây dựng khung pháp lý cho loại hình công ty vì lợi ích cộng đồng đặc thù tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Luật học: Đặc biệt thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Doanh nghiệp và Luật Thương mại quốc tế khi nghiên cứu về địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh đặc thù.
  • Các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp dữ liệu so sánh pháp luật quốc tế phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các nghị định hướng dẫn thi hành luật doanh nghiệp và hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế.
  • Nhà quản trị tổ chức phi lợi nhuận và doanh nhân xã hội: Tham khảo quy trình thủ tục 4 giai đoạn khi đăng ký thành lập, xây dựng bản Cam kết mục tiêu xã hội và nắm vững quy định pháp lý về tiếp nhận viện trợ, giải thể và xử lý số dư tài sản tài trợ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định những tiêu chí bắt buộc nào để một tổ chức được công nhận là Doanh nghiệp xã hội? Theo Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014, một tổ chức được xác định là DNXH khi đáp ứng đủ hai tiêu chí: (i) Được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; (ii) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

2. Bản Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của DNXH bắt buộc phải có những nội dung nào? Theo Nghị định 96/2015/NĐ-CP, văn bản cam kết phải bao gồm 5 nội dung chính: (1) Vấn đề xã hội, môi trường và phương thức thực hiện; (2) Thời hạn thực hiện; (3) Tỷ lệ phần trăm (%) lợi nhuận giữ lại hằng năm để tái đầu tư; (4) Nguyên tắc và phương thức sử dụng, xử lý các khoản viện trợ, tài trợ (kể cả khi giải thể hoặc chuyển đổi); (5) Họ tên, chữ ký của chủ sở hữu hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

3. Khi giải thể Doanh nghiệp xã hội, số dư tài sản hoặc tài chính từ nguồn viện trợ, tài trợ chưa dùng hết được xử lý ra sao? Theo Nghị định 96/2015/NĐ-CP, số dư tài sản hoặc tài chính còn lại từ nguồn viện trợ, tài trợ đã nhận không được chia cho các thành viên/cổ đông mà phải hoàn trả lại cho bên tài trợ, hoặc chuyển giao cho các DNXH khác, tổ chức khác có cùng mục tiêu xã hội tương tự. Hồ sơ giải thể bắt buộc phải kèm theo văn bản thỏa thuận xử lý số dư này.

4. Khái niệm "tài sản khóa" (lock assets) trong mô hình Công ty vì lợi ích cộng đồng (CIC) của Vương quốc Anh mang ý nghĩa gì? Quy chế CIC Regs 2005 của Anh quy định "tài sản khóa" là cơ chế pháp lý ràng buộc nhằm hạn chế việc chuyển nhượng tài sản ra bên ngoài công ty, ấn định mức trần thanh toán cổ tức, đảm bảo toàn bộ tài sản và nguồn lực tích lũy của doanh nghiệp luôn được giữ lại để phục vụ lợi ích cộng đồng.

5. Các quốc gia như Ý, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh áp dụng chính sách ưu đãi thuế cụ thể nào cho DNXH? Ý áp dụng thuế suất ưu đãi 12,5% cho lợi nhuận tái đầu tư của các tổ chức công ích (so với mức chuẩn 40%). Tây Ban Nha miễn thuế tài trợ không phát sinh từ kinh tế và giảm thuế còn 10% cho thu nhập kinh tế không liên quan. Vương quốc Anh miễn thuế thu nhập đối với lợi nhuận tái đầu tư phục vụ mục tiêu ban đầu và giảm 80% thuế bất động sản cho các tổ chức từ thiện tham gia kinh doanh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Bích Ngọc đã phác thảo toàn diện bức tranh lý luận và thực trạng pháp lý về Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam theo tinh thần Luật Doanh nghiệp năm 2014. Qua việc đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển như Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và các nước EU, công trình đã chỉ rõ những bất cập về cơ chế hỗ trợ thuế, cơ cấu tổ chức và thiếu vắng cơ quan điều phối chuyên trách tại Việt Nam. Các giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của mô hình doanh nghiệp xã hội trong nền kinh tế thị trường.