Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật Học: Phân Tích Doanh Nghiệp Xã Hội Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định và thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

60
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

1.1. Khái niệm Doanh nghiệp xã hội

1.2. Lịch sử phát triển

1.2.1. Trên thế giới

1.2.2. Ở Việt Nam

1.2.2.1. Trước Đổi mới (1986)
1.2.2.2. Giai đoạn từ năm 1986-2010

2. CHƯƠNG 2: DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1. Cơ sở pháp lý chung

2.2. Các quy định cụ thể

2.2.1. Quy định về bản chất, đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội

2.2.2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp xã hội

2.2.3. Quy định về quyền thành lập doanh nghiệp xã hội

2.2.4. Quy định về hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội

2.2.5. Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp xã hội

2.2.6. Quy định về quản trị doanh nghiệp

2.2.7. Các chính sách hỗ trợ DNXH

2.2.8. Quy định về các chính sách xã hội của luật chuyên ngành

3. CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

3.1. Pháp luật về DNXH tại một số quốc gia trên thế giới

3.2. Ưu đãi về chính sách thuế

3.3. Hỗ trợ về thể chế

3.4. Loại hình DNXH

3.5. Chiến lược phát triển DNXH

3.6. Cơ quan điều phối

3.7. Một số hạn chế của pháp luật Việt Nam về DNXH

3.7.1. Về các tiêu chí của DNXH

3.7.2. Về loại hình DNXH

3.7.3. Hệ thống văn bản pháp luật dành cho DNXH

3.7.4. Về các chính sách hỗ trợ DNXH

3.7.5. Cơ chế mở cho DNXH

3.8. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về DNXH

3.8.1. Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về DNXH

3.8.2. Về cơ quan điều phối, hỗ trợ DNXH

3.8.3. Về chính sách ưu đãi đối với DNXH

3.8.4. Xu hướng mở cho DNXH

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Nguyễn Bích Ngọc, tập trung vào vấn đề doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ chương trình Luật học Chất lượng cao tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích các quy định pháp luật hiện hành về doanh nghiệp xã hội, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình này.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của khóa luận tốt nghiệp là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng tìm hiểu kinh nghiệm từ các quốc gia khác để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xã hội.

1.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp bao gồm các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội trong Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nghiên cứu cũng xem xét các chính sách phát triển hiện hành dành cho doanh nghiệp xã hội.

II. Luật học và chất lượng cao

Luật học Chất lượng cao là chương trình đào tạo chuyên sâu về pháp luật, nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sinh viên trong việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật. Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Bích Ngọc là một phần của chương trình này, tập trung vào việc phân tích và đánh giá các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội.

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các vấn đề pháp lý. Các phương pháp thống kê, so sánh và tổng hợp cũng được áp dụng để đảm bảo tính toàn diện và chính xác của nghiên cứu.

2.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Khóa luận tốt nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đây về doanh nghiệp xã hội. Nghiên cứu cũng góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.

III. Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

Doanh nghiệp xã hội là mô hình doanh nghiệp kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp xã hội phải đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu và tái phân phối lợi nhuận cho cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

3.1. Cơ sở pháp lý

Cơ sở pháp lý chính của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam là Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các quy định này xác định bản chất, đặc điểm, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội.

3.2. Hạn chế và đề xuất

Một số quy định về doanh nghiệp xã hội còn chung chung và chưa phát huy hết tiềm năng của mô hình này. Nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống văn bản pháp luật chuyên biệt và tăng cường các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội.

IV. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về phát triển doanh nghiệp xã hội. Các quốc gia này đã xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách hỗ trợ hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp xã hội. Từ đó, nghiên cứu rút ra các bài học cho Việt Nam.

4.1. Ưu đãi về chính sách thuế

Các quốc gia như Anh, Hàn Quốc và Thái Lan đã áp dụng các chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp xã hội. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm này để hoàn thiện chính sách thuế dành cho doanh nghiệp xã hội.

4.2. Hỗ trợ về thể chế

Việc thành lập các cơ quan điều phối và hỗ trợ doanh nghiệp xã hội là yếu tố quan trọng giúp mô hình này phát triển bền vững. Nghiên cứu đề xuất Việt Nam nên xây dựng các cơ chế hỗ trợ tương tự.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1. Khái niệm Doanh nghiệp xã hội Khi nói về DNXH, tổ chức Schwab về DNXH nêu định nghĩa: DNXH áp dụng các giải pháp thực tiễn, tiên tiến, bền vững nhằm mang lại lợi ích cho xã hội nói chung, đặc biệt là những người nghèo và người yếu thế trong xã hội. Các tổ chức này đưa ra các giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội và kinh tế… không phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động và không phụ thuộc vào đó là doanh nghiệp kiếm lợi nhuận hay không [23]. Dễ nhận thấy, định nghĩa của Schwab về DNXH tập trung vào mục đích của doanh nghiệp xã hội là có những giải pháp sáng tạo, bền vững mang lại lợi ích cho xã hội, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như người nghèo, phụ nữ, trẻ em… chứ không định nghĩa theo mức lợi nhuận dùng để giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế.

Tại Hàn Quốc, đạo luật khuyến khích DNXH, khoản 1, điều 2 quy định: DNXH là tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ, theo đuổi mục đích xã hội, tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân bằng cách cung cấp dịch vụ, tạo công ăn việc làm và các dịch vụ cho những người yếu thế trong xã hội. Theo khoản 2, điều 2, nhóm người yếu thế trong xã hội được hiểu là những người gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội mà họ cần ở mức giá thị trường hoặc phải làm việc trong điều kiện lao động dưới bình thường [25]. Tại Thái Lan: Theo Văn phòng DNXH Thái Lan, DNXH là doanh nghiệp hoặc tổ chức được thành lập để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Nguồn thu chính là từ dịch vụ (hơn là được tặng) để tạo ra loại hình tự chủ tài chính.

Tiền lãi được tái đầu tư để đạt được các mục đích xã hội. Tại Philippin: Theo House Bill số 6085, DNXH là là tổ chức, dù là hiệp 8 hội, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần mà lợi nhuận của nó dùng để cung cấp hàng hóa, dịch vụ liên quan đến phát triển cuộc sống cho người dân. [24] Từ những định nghĩa về DNXH của một số quốc gia châu Á có thể nhận thấy các quốc gia này cũng tập trung vào mục đích của DNXH khi định nghĩa DNXH. DNXH thực hiện các hoạt động sản xuất, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các đối tượng yếu thế trong xã hội, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, tìm kiếm việc làm như phụ nữ, trẻ em lang thang, cơ nhỡ, bị bạo hành, người nhiễm HIV/AIDS, những người chấp hành xong án phạt tù cần tái hòa nhập cộng đồng, v.v…, nhằm mang lại điều kiện sống tốt hơn, tăng cường chất lượng cuộc sống cho người dân, giúp họ tiếp cận được với các sản phẩm, dịch vụ một cách tốt nhất.

Trong Chiến lược phát triển DNXH năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa: “DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Cách định nghĩa này rất toàn diện, bám sát những đặc điểm cơ bản của DNXH. Một là, kinh doanh cần được hiểu như một mô hình, phương án, giải pháp kinh doanh. Hai là, mục tiêu xã hội được đặt ra như một sứ mệnh cơ bản và trước tiên của việc thành lập tổ chức đó.

DNXH phải là tổ chức đượ lập ra vì mục tiêu xã hội. Ba là, về nguyên tắc (principally) lợi nhuận được tái phân phối lại cho tổ chức hoặc cộng đồng, không phải cho cá nhân. OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) định nghĩa: “DNXH là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn.

Ngoài ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”. 9 Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng - CSIP của Việt Nam đưa ra quan điểm: “DNXH là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể. DNXH lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/ môi trường và mục tiêu kinh tế”. [22] Trước hết, CSIP gắn DNXH với doanh nhân xã hội để nhấn mạnh vai trò của người sáng lập tổ chức là những người kết hợp hài hòa được sáng kiến xã hội và tinh thần doanh nhân.

Thứ hai, DNXH có thể đang hoặc sẽ hoạt động dưới nhiều hình thức tổ chức và địa vị pháp lý khác nhau, vốn phù hợp với thực trạng phong phú của khu vực xã hội dân sự ở Việt Nam, trong đó nổi bật là vai trò đổi mới của các NGOs; đồng thời mở ra khả năng chuyển đổi thành DNXH từ các mô hình tổ chức khác như Quỹ tín dụng vi mô, Quỹ từ thiện, Hợp tác xã thậm chí có thể bao gồm các một số loại hình từ Tổ chức xã hội, Tổ chức sự nghiệp, Doanh nghiệp dịch vụ công ích của khu vực nhà nước. Thứ ba, các tiêu chí chủ đạo để xác định DXNH trong khái niệm của CSIP dường như tiếp thu trường phái định nghĩa của OECD khi yêu cầu DNXH phải theo đuổi đồng thời cả hai mục tiêu xã hội (chủ đạo) và kinh tế. Tương tự như OECD, vấn đề phân phối lợi nhuận không được đề cập rõ ràng trong định nghĩa của CSIP. Như vậy, có thể nhận thấy điểm chung của các định nghĩa trên là tập trung vào mục tiêu của DNXH là giải quyết các vấn đề môi trường, xã hội, thay vì tối đa hóa lợi nhuận.

Các DNXH thực hiện các hoạt động kinh doanh như mua bán hang hóa, cung cấp dịch vụ, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, v.v… Từ đó, người dân nói chung và những người yếu thế trong xã hội nói riêng được tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ một cách tốt nhất, cải thiện chất lượng của họ. Hơn nữa, hình thức pháp lý của DNXH rất đa dạng và phong phú, có những định nghĩa quy định một tổ chức là 10 DNXH chỉ dựa trên mục đích hoạt động mà không phụ thuộc vào hình thức pháp lý là gì. Lịch sử phát triển 1. Trên thế giới Theo nghiên cứu của MacDonald M.

(2008), mô hình DNXH đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665, khi Đại dịch (Great Plague) hoành hành đã khiến nhiều gia đình giàu có, vốn là các chủ xưởng công nghiệp và cơ sở thương mại rút khỏi thành phố, để lại tình trạng thất nghiệp tăng nhanh trong nhóm dân nghèo lao động. Trong bối cảnh đó, Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1,700 công nhân. Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện. Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, số lượng không nhiều các DNXH ở Anh có thể được phân thành hai nhóm: (i) Một số người giàu có thay đổi quan điểm của họ trong hoạt động từ thiện.

Thay cho những khoản đóng góp vật chất dễ gây nên tâm lý ỷ lại, lười biếng và ‘nhàn cư vi bất thiện’ ở tầng lớp dân nghèo, họ chuyển sang các chương trình cung cấp việc làm để nhóm này học việc và có thể duy trì công việc cũng như thu nhập của mình, trở thành ‘những thành viên hữu ích của quốc gia’. Trường dạy xe sợi, dệt vải, mô hình DNXH đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục, được mở ở Liverpool năm 1790. Trường giáo dưỡng, tái hòa nhập trẻ phạm tội của tư nhân, đã được Nhà nước công nhận và tài trợ. Hàng loạt sáng kiến xã hội khác như đào tạo nghề đi biển, nghề mộc cho trẻ em, sử dụng nguồn thu từ các hàng cà phê cũng được ghi nhận trong thời gian này.

Đặc biệt, các dự án cung cấp nhà ở xã hội đầu tiên đã đi theo mô hình DNXH với mức lợi nhuận tối đa 5% được các nhà đầu tư chấp nhận. (ii) Xuất hiện các mô hình cho phép người lao động có nhiều quyền 11 hơn trong ký kết hợp đồng lao động và lần đầu tiên họ có khả năng làm chủ kế hoạch kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận. Hợp tác xã (Co-op), hội ái hữu (Provident Society), làng nghề (Industrial Society) đã thực hiện phân phối lợi nhuận và cung cấp phúc lợi cho toàn bộ cộng đồng, cũng như trao quyền biểu quyết về quản lý tổ chức và kinh doanh cho tất cả thành viên. Ngoài ra, trên thực tế nhiều thư viện và bảo tàng ở châu Âu và Bắc Mỹ từ lâu đã có truyền thống thực hiện kinh doanh, bán hàng lưu niệm, đấu giá nhằm mục đích gây quỹ cho các lĩnh vực hoạt động chính của mình.

Mặc dù không điển hình, nhưng đây cũng có thể được coi như những hoạt động mang tinh thần doanh nhân xã hội xuất hiện từ rất sớm. Họ hướng đến kinh doanh như một công cụ để tăng cường tính bền vững của tổ chức, cũng như giải pháp xã hội mà dựa vào đó tổ chức được thành lập. Sang thế kỷ 20, hoạt động của các DNXH có phần giảm sút khi chủ thuyết kinh tế Keynes lên ngôi từ sau cuộc Đại suy thoái (1929-1933), cổ vũ cho vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế; và cũng nhờ đó, một loạt mô hình Nhà nước phúc lợi đã ra đời ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau Thế chiến II. Các DNXH chỉ thực sự phát triển mạnh để hình thành nên một phong trào rộng khắp có diện mạo như ngày nay kể từ khi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher lên nắm quyền, năm 1979.

Bà chủ trương thu hẹp lại vai trò của Nhà nước và cho rằng Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung cấp phúc lợi xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết này tập trung vào việc tối ưu hóa website để cải thiện thứ hạng trên công cụ tìm kiếm, đặc biệt là Google. Tiểu luận thảo luận nhóm TMU tối ưu hóa website httphonglinhsoft.com trên công cụ tìm kiếm Google cung cấp những chiến lược cụ thể để nâng cao hiệu quả SEO, từ việc tối ưu cấu trúc website đến việc sử dụng từ khóa một cách thông minh. Độc giả sẽ học được cách áp dụng các kỹ thuật SEO để thu hút lượng truy cập tự nhiên và tăng khả năng hiển thị của website. Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về cách tối ưu hóa content marketing, hãy xem Luận văn tốt nghiệp giải pháp hoàn thiện hoạt động content marketing trên website của công ty trách nhiệm hữu hạn Bici Center. Để khám phá thêm về việc xây dựng website bán hàng hiệu quả, bạn có thể tham khảo Tiểu luận đề tài xây dựng website bán hàng cho cửa hàng Pokemon. Những bài viết này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng các giải pháp tối ưu hóa một cách toàn diện.