CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vị trí phân loại và đặc điểm thực vật của chi Commelina 1. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại Cronquist (hệ thống phân loại thực vật có hoa do Arthur Cronquist phát triển), [16] chi Commelina thuộc: Giới (Kingdom): Thực vật (Plantae) Phân giới (Subkingdom): Thực vật có mạch (Tracheobionta) Trên ngành (Superdivision): Thực vật có hạt (Spermatophyta) Ngành (Division): Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp (Class): Lớp hành (Liliopsida) Phân lớp (Subclass): Thài lài (Commelinidae) Bộ (Order): Thài lài (Commelinales) Họ (Family): Thài lài (Commelinaceae) Chi: Commelina L. Đặc điểm phân bố Chi Commelina L.
là chi lớn nhất trong họ Commelinaceae, có khoảng từ 205 đến 215 loài. [41] Đây cũng là một trong sáu chi có sự phân bố rộng khắp thế giới và phức tạp nhất trong việc phân loại ở họ Commelinaceae. chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. [30] Một số loài phổ biến của chi này là C.
benghalensis được tìm thấy ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á và châu Phi, [33] Commelina erecta được thấy ở châu Mĩ (ôn đới và nhiệt đới), tiểu vùng Sahara ở châu Phi và phía Nam Arabian Peninsula. Trong số các loài của chi Commelina L. thì loài Commelina dielsii là loài duy nhất chỉ được tìm thấy ở đúng một nơi trên thế giới. Loài này được phát hiện đầu tiên vào năm 1940 và mới chỉ được tìm 2 thấy ở Concepción del Uruguay, tỉnh Entre Ríos, vùng đông bắc Argentina.
Đặc điểm thực vật Các loài thuộc chi Commelina L. là cây sống lâu năm hoặc hàng năm. Rễ cây thường ở dạng sợi, hiếm khi có củ hoặc thân rễ. Lá cây thường mọc thành hai hàng hoặc mọc theo hình xoắn ốc, không có cuống hoặc có một cuống lá.
[19, 20] Cụm hoa mọc ở ngọn thân, mọc tại nách lá, trên cùng một mấu với lá. [19, 20] Cụm hoa có chứa một hoặc hai xim hoa hình đuôi bọ cạp, tức là mỗi hoa mọc trên một trục hoa đơn lẻ, các trục hoa đơn lẻ sắp xếp so le tạo thành cụm giống như đuôi bọ cạp mọc dọc theo trục chính của chùy hoa. Xim hoa được bao trong một bao mo - một chiếc lá đã bị biến đổi và chứa đầy dịch nhầy. Các lá bắc đôi khi nằm dưới cuống lá nhưng thường thường sẽ không có lá bắc.
Chi này có hoa lưỡng tính hoặc hoa đực. Ba lá đài không đồng đều, có thể mọc tự do hoặc hai lá đài có thể hợp nhất với nhau. Các cánh hoa mọc tự do và không đồng đều. Hai cánh hoa bên trên to hơn và quắp vào, nghĩa là chúng hẹp lại thành cuống ở gốc - nơi chúng gắn vào phần còn lại của hoa.
Trong khi đó, cánh hoa bên dưới thường nhỏ hơn và có màu sắc khác với hai cánh hoa bên trên. Hoa thường có màu xanh lam nhưng đôi khi cũng có thể là màu tím nhạt, màu vàng, màu trắng,…[19, 20] Hoa có ba nhị hữu thụ và ba nhị bất thụ. Chúng mọc tự do và có chỉ nhị nhẵn nhụi. Nhị bất thụ thường mọc phía sau với bao phấn, có bốn hoặc sáu thùy.
Nhị hữu thụ mọc phía trước và dài hơn so với các nhị bất thụ. Nhị hoa ở giữa khác biệt về kích cỡ và hình dạng so với các nhị hoa còn lại. Bầu nhụy có hai hoặc ba ô với một hoặc hai noãn tại mỗi ô. [19, 20] Quả nang thường có hai hoặc ba ô, hiếm khi có một ô.
Quả nang có hai hoặc ba mảnh vỏ. Mỗi ô chứa một hoặc hai hạt, cũng có thể không chứa hạt nào. Các hạt xếp thành một hàng, rốn hạt thẳng. Công dụng Theo y học cổ truyền, nhiều loài thuộc chi Commelina L.
được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Các loài thuộc chi Commelina L. được sử dụng làm thuốc chữa viêm họng, cảm cúm, cảm lạnh,…[38]. benghalensis được sử dụng để trị đau, táo bón, nhức đầu và bệnh phong.
Ở nhiều vùng nhiệt đới châu Á, nó được sử dụng để điều trị vô sinh ở phụ nữ. Ở Ấn Độ, nó được sử dụng để giảm béo, nhuận tràng, mềm da, chống viêm và chống trầm cảm. coelestis được sử dụng để chữa tiêu chảy ở Mexico. [28] Tại Việt Nam, nhiều loài thuộc chi Commelina L.
cũng được sử dụng làm thuốc chữa nhiều loại bệnh. benghalensis được sử dụng làm thuốc xổ, bảo vệ màng nhầy, hoạt nhuận và làm mát. dùng làm thuốc lợi tiểu, trị phù thũng do suy tim, trị huyết áp cao, sốt, đau mắt, lậu,…[9] Các nghiên cứu hiện đại cũng đã chứng minh được tác dụng của một số loài thuộc chi Commelina L. Các chất chiết xuất ethanol từ rễ của loài C.benghalensi cho thấy tác dụng giảm đau rất tốt với cơ chế tương tự cơ chế hoạt động của các NSAID khác.
Ngoài ra, loài này còn cho thấy khả năng chống viêm, kháng khuẩn, chống oxi hóa,… [33] C. coelestis cho thấy hoạt tính chống tiêu chảy. appendiculata có tiềm năng giảm đau tốt. Tổng quan về cây Thài lài trắng Tên khoa học: Commelina diffusa Burm.
Synonyms: Commelina agraria Kunth (1843), Commelina aquatica J.Morton, Commelina longicaulis Jacq,…[42] Tên tiếng Việt thường gọi: Thài lài trắng, Rau trai [9] 1. Đặc điểm phân bố Commelina diffusa được mô tả lần đầu tiên vào năm 1768 bởi Burman. diffusa được tìm thấy ở khắp các vùng nhiệt đới của châu Mĩ, châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương, cũng như ở các vùng cận nhiệt đới phía nam của Hoa Kỳ, Nam Mĩ, Úc và các đảo Nam Á. diffusa là một loài cỏ dại ở vùng nhiệt đới và cả cận nhiệt đới, xuất hiện chủ yếu ở các môi trường sống thoáng và ẩm như các cánh đồng lúa.
Cây thường mọc ở các vùng đất canh tác, ven đồng ruộng, đồng cỏ ẩm ướt, ven đường và các khu vườn.diffusa có thể chống chịu được những đợt lũ lụt tạm thời. [22] Tại Việt Nam, loài này thường mọc ở nơi ẩm ướt như ven đồi, ven đường, đất ẩm ướt.1: Hình ảnh về loài Thài lài trắng 1. Đặc điểm loài Commelina diffusa là loài cây hàng năm ở các vùng ôn đới nhưng lại là loài lâu năm khi mọc ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới. [22, 20] Cây bò lan rộng trên mặt đất, thân phân nhiều nhánh và mọc rễ ở các mắt cây.
Thân cây mịn hoặc sần sùi, gần như không có lông. [9, 23] Thân cây có thể dài lên đến một mét. [9] Các phiến lá có hình dạng đa dạng, có thể là hình mác đến hình trứng, phần lá gần cuống thì thường thuôn hơn. Chúng có kích thước 3-12 cm x 0,8-3 cm.
[23] Bề mặt lá có thể nhẵn hoặc có lông. [20] Lá không có cuống và bẹ lá có sọc màu đỏ, được bao phủ bởi các sợi lông tơ. [9, 20] Hoa thường mọc thành xim hoa hình đuôi bọ cạp, tức là mỗi hoa mọc trên một trục hoa đơn lẻ, các trục hoa đơn lẻ sắp xếp so le tạo thành cụm giống như đuôi bọ cạp mọc dọc theo trục chính của chùy hoa. Thông thường 5 sẽ có hai xim hoa, xim hoa thấp hơn có khoảng từ hai đến bốn bông hoa, trong khi đó, xim hoa ở bên trên có từ một bông hoa trở lên.
[20] Xim hoa phía trên chỉ có một bông hoa đực và có cuống hoa dài hơn xim hoa phía dưới có hoa lưỡng tính. Mỗi cuống chỉ mọc một bông hoa. Quả có kích thước từ 3-5 mm. [23] Các lá đài ở dạng màng mỏng, khó nhìn thấy, chỉ có chiều dài từ 3-4 mm.
[23] Cánh hoa màu xanh nhưng trong một số trường hợp hiếm hoi sẽ có màu tím nhạt. [20] Hai cánh hoa bên trên có kích thước từ 4,2 - 6 mm. [23] Phần liên kết hai nửa bao phấn của nhị hoa trung tâm có một có một dải ngang màu tím. Bao mo mọc đơn độc trên một cuống và thường có dạng chủ yếu là hình lưỡi liềm, hoặc hình trái tim cho đến hình có đáy tròn, đỉnh nhọn.
Bao mo mịn hoặc có thể có vân, tức là có rãnh nhỏ trên đó. Chúng thường dài 0,8-2,5 cm, nhưng có thể ngắn đến 0,5-4 cm. Chúng thường rộng 0,4x1,2 cm, nhưng có thể rộng tới 1,4 cm. Cuống của chúng thường dài 0,5-2 cm và hiếm khi lên đến 2,9 cm.
[20, 23] Ra hoa từ tháng 5 đến tháng 11. [23] Quả nang có 3 ô và hai mảnh vỏ, chứa 5 hạt đen, vỏ hạt có mạng. [9,23] Quả có kích thước dài 4-6,3 mm, rộng 3-4 mm, mặc dù nó có thể hẹp tới 2,1 mm. Hạt dài 2-2,8 mm, hiếm khi dài đến 3,2 mm, rộng 1,4-1,8 mm.
Thành phần hóa học Bằng phương pháp sắc kí lớp mỏng và định lượng sơ bộ, người ta nhận thấy rằng thành phần hóa học của loài C. diffusa bao gồm alcaloid, flavonoid, saponin, tanin, glycosid tim, anthraquinon, steroid và terpenoid. Ngoài ra, thài lài còn mang các hàm lượng chất dinh dưỡng cao, bao gồm vitamin C, vitamin B3, vitamin B2,…[27] Năm 2014, Lê Xuân Đắc và các cộng sự đã tìm thấy khoảng 0,006% 20-hydroxyecdysone (1) trong toàn thân của loài C. Mẫu được thu hái ở khu vực dân cư tại thị trấn Tam Đảo và một số xã vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo.
Xác định hàm lượng 20-hydroxyecdysone có trong mẫu bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao trên hệ thống HPLC Agilent 1200 6 (Mĩ), cột Zorbax Eclipse XDB-C18 (5 μm, 4,6x150 mm), thành phần pha động: nước/axetonitrin là 80/20, tốc độ dòng là 1 ml/phút, bước sóng l = 242 nm, nhiệt độ cột 30°C. [6] Năm 2018, với mẫu cây C. diffusa được thu thập từ vườn thực vật ở đại học Port Harcourt, Nigeria, Ekeke và các cộng sự đã tìm thấy 38 flavonoid, 38 alcaloid, 40 phenolic acid và 18 glycosid bằng phương pháp sắc kí lớp mỏng hiệu suất cao. Flavonoid gồm chủ yếu là các flavanon và flavon, trong đó, chất rhoifolin chiếm hàm lượng cao nhất (4,44g/100g).
Các chất thuộc nhóm isoquinoline có hàm lượng cao nhất trong các alcaloid, trong đó, chủ yếu là chất psychotrin (6,97g/100g). Trong số các phenolic acid thì chất có tỉ lệ cao nhất là astringin acid (8,023g/100g). Cuối cùng, với các glycosid, captopril acid (15,705/100g) là chất được tìm thấy nhiều nhất. Hamad và các cộng sự lần đầu tiên tìm thấy 7-hydroxy-4´-methoxy-isoflavon (2) từ dịch chiết của lá cây loài C.
Dịch chiết flavonoid được xác định bởi phương pháp quang phổ Uv – vis, H NMR và các kĩ thuật C NMR. [35] Năm 2019, các nhà khoa học đã tìm thấy alcaloid, phenolic, tannin, steroid, flavonoid, protein và phyosteriod ở loài C. Từ chồi cây, người ta đã tìm thấy 21 hợp chất từ loài C.