Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người. Khi quan hệ hôn nhân bị rạn nứt dẫn tới ly hôn, con chưa thành niên là đối tượng phải gánh chịu nhiều thiệt thòi và tổn thương tâm lý nhất. Mặc dù Tòa án đã ra phán quyết giao con cho một bên cha hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, song trên thực tế, sau khi ly hôn, điều kiện sống và khả năng nuôi dưỡng của người trực tiếp nuôi con có thể bị thay đổi. Nhiều trường hợp cha hoặc mẹ mải mê công việc riêng, xây dựng gia đình mới, thiếu quan tâm dẫn đến việc con cái sa sút học tập, suy giảm sức khỏe, thậm chí trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình. Ngược lại, có trường hợp người trực tiếp nuôi con lợi dụng quyền hạn để cản trở bên kia thực hiện quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung.

Nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp và sự phát triển toàn diện của trẻ em, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa và hoàn thiện chế định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử tại các cấp Tòa án vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc, từ khâu xác định căn cứ thay đổi, đánh giá hành vi cản trở quyền thăm nom cho đến quy trình lấy ý kiến của con chưa thành niên. Xuất phát từ bối cảnh lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả Vũ Thị Ánh Ngọc đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Phương Lan.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đánh giá thực tiễn xét xử tại Tòa án; trên cơ sở đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
    1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và tiến trình phát triển của chế định này trong lịch sử pháp luật Việt Nam.
    2. Phân tích, đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành về căn cứ, chủ thể, thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
    3. Khảo sát, phân tích các vụ việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu thực tế thông qua các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp; chỉ ra những vướng mắc, bất cập phát sinh.
    4. Đề xuất các quan điểm, kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật và các giải pháp thực tế nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận pháp lý, quy phạm pháp luật hiện hành về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và thực tiễn áp dụng các quy định này tại cơ quan xét xử.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016 cùng các văn bản hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
    • Về không gian và thời gian: Các bản án, quyết định dân sự, hôn nhân gia đình có hiệu lực pháp luật tại một số Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh (Hà Nội, Kiên Giang, Vĩnh Phúc...) được ban hành từ năm 2019 đến tháng 6 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, gắn liền với quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân gia đình.

Khung lý thuyết và văn bản pháp luật sử dụng:

  • Khái niệm nền tảng: Ly hôn (Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); Hậu quả pháp lý của ly hôn đối với quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con (Điều 81, Điều 82, Điều 83); Căn cứ thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 84); Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 85).
  • Văn bản luật và dưới luật: Bộ luật Dân sự năm 2015 (các quy định về giám hộ tại Điều 55, 56; năng lực hành vi dân sự tại Điều 21, 22); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (thẩm quyền tại Điều 28, 29, 39; trình tự thủ tục tại Điều 190, 191, 195, 203, 205, 208, 222, 363, 365, 366, 369, 371); Luật Trẻ em năm 2016; Nghị định số 02/2013/NĐ-CP; Nghị định số 56/2017/NĐ-CP; Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC và Công văn số 96/TANDTC-PC ngày 01/07/2021 của Tòa án nhân dân tối cao.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để mổ xẻ các khái niệm khoa học pháp lý, phân tích các điều khoản luật thực định và hệ thống hóa các đặc điểm, ý nghĩa của chế định.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh giá sự phát triển của các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử (trước 1945, giai đoạn 1945-1975, 1975 đến nay) và so sánh trực tiếp các điểm đổi mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật năm 1959, 1986, 2000.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Trích dẫn, mô tả và bình luận các vụ việc thực tế được thể hiện qua các bản án, quyết định sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án nhằm nhận diện tính tương thích giữa quy định pháp luật và thực tiễn xét xử.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu đi trước về quyền nuôi con và cấp dưỡng như Luận văn thạc sĩ tại Khoa Luật - ĐHQGHN (về TAND tỉnh Thừa Thiên Huế), Lê Thị Hiền (2021), Nguyễn Thị Thủy (2020 tại Hòa Bình), Vũ Thị Thùy (2021 tại Trường Đại học Luật Hà Nội).
  • Nguồn dữ liệu thực tiễn: 06 bản án, quyết định giải quyết việc/vụ án hôn nhân gia đình từ năm 2018 đến năm 2022 của TAND quận Ba Đình, TAND quận Cầu Giấy, TAND quận Hai Bà Trưng, TAND thành phố Hà Nội, TAND huyện Sông Lô (Vĩnh Phúc) và TAND tỉnh Kiên Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ly hôn và thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm khoa học pháp lý căn bản. Khóa luận xác định ly hôn là sự kiện pháp lý chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng theo phán quyết của Tòa án, nhưng không làm chấm dứt quan hệ huyết thống và các nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái giữa cha mẹ và con. Tác giả chỉ ra 05 đặc điểm pháp lý cơ bản của việc thay đổi người trực tiếp nuôi con:

  1. Đối tượng áp dụng chỉ đặt ra đối với con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  2. Việc thay đổi có thể dựa trên cơ sở sự tự nguyện thỏa thuận giữa cha mẹ hoặc do người khác yêu cầu nhằm bảo đảm tốt nhất lợi ích của con.
  3. Việc thay đổi chỉ đặt ra khi chủ thể có quyền yêu cầu đưa ra được các căn cứ luật định.
  4. Quyết định thay đổi của Tòa án là cơ sở pháp lý xác định lại quyền, nghĩa vụ chăm sóc và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các bên.
  5. Quyền yêu cầu thay đổi là quyền nhân thân gắn liền với quyền làm cha, làm mẹ sau khi ly hôn.

Bên cạnh đó, chương 1 phác thảo tiến trình lập pháp về chế định thay đổi người nuôi con qua các giai đoạn lịch sử:

Giai đoạn lịch sử Văn bản điều chỉnh tiêu biểu Nội dung ghi nhận về nuôi con và thay đổi người nuôi con
Thời kỳ phong kiến Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) Đặt nặng nghĩa vụ phụng dưỡng của con với cha mẹ; trọng nam khinh nữ; con cái và tài sản thường do người cha nắm giữ; chưa ghi nhận việc thay đổi người nuôi con.
Thời kỳ Pháp thuộc Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936), Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883) Con mặc nhiên giao cho cha nuôi dưỡng (trừ khi vì lợi ích đứa trẻ giao cho mẹ thì cha cấp dưỡng); chưa có quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Giai đoạn 1945 - 1975 Sắc lệnh 159-SL (1950); Luật HN&GĐ 1959 (miền Bắc); Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, Bộ Dân luật 1972 (miền Nam) Điều 32 Luật HN&GĐ 1959 lần đầu tiên ghi nhận: "Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng giáo dục con cái". Miền Nam nhấn mạnh lỗi của đương sự khi giải quyết nuôi con.
Giai đoạn 1975 - nay Luật HN&GĐ 1986, Luật HN&GĐ 2000, Luật HN&GĐ 2014 Luật 1986 giữ nguyên tinh thần Luật 1959. Luật 2000 bổ sung xem xét nguyện vọng con từ đủ 9 tuổi. Luật 2014 hoàn thiện căn cứ tại Điều 84, mở rộng chủ thể yêu cầu và hạ độ tuổi xem xét nguyện vọng xuống từ đủ 7 tuổi.

Chương 2: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thực tiễn áp dụng tại Tòa án và một số kiến nghị

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các đạo luật liên quan:

  • Căn cứ thay đổi người trực tiếp nuôi con (Khoản 2 Điều 84):
    • Thỏa thuận giữa cha và mẹ: Dựa trên tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối, phản ánh đúng ý chí bảo đảm lợi ích về mọi mặt của con. Tòa án kiểm tra tính tự nguyện và tính phù hợp để ra quyết định công nhận.
    • Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện: Do các nguyên nhân khách quan (suy giảm sức khỏe nghiêm trọng, tai nạn, mất việc làm, khó khăn kinh tế) hoặc nguyên nhân chủ quan (sa vào tệ nạn xã hội, phạm tội, bạo lực gia đình, bỏ bê con cái cho ông bà, cản trở quyền thăm nom).
  • Chủ thể có quyền yêu cầu (Khoản 1 và Khoản 5 Điều 84): Người không trực tiếp nuôi con; Người thân thích (theo định nghĩa tại Khoản 19 Điều 3); Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình (Ủy ban nhân dân các cấp, Sở/Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em (Bộ LĐ-TB&XH, UBND các cấp); Hội Liên hiệp Phụ nữ.
  • Thẩm quyền và thủ tục giải quyết theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
    • Việc dân sự (không có tranh chấp): Áp dụng khi hai bên thuận tình thỏa thuận thay đổi người nuôi con theo thủ tục giải quyết việc dân sự (Điều 363 đến Điều 371 BLTTDS năm 2015). Thẩm quyền thuộc TAND cấp huyện nơi một trong các bên cư trú hoặc nơi người con đang cư trú.
    • Vụ án dân sự (có tranh chấp): Khi một bên khởi kiện do không thống nhất được, Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, hòa giải và xét xử sơ thẩm theo quy định chung (Điều 190 đến Điều 222 BLTTDS năm 2015).
    • Thủ tục lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi trở lên: Quy định tại Khoản 2 Điều 208 BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn nghiệp vụ của TAND tối cao, bảo đảm phương pháp thân thiện, phù hợp tâm lý lứa tuổi và giữ bí mật đời tư của trẻ.
    • Trường hợp cả cha và mẹ không đủ điều kiện: Khoản 4 Điều 84 quy định Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo Điều 55, 56 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Hậu quả pháp lý: Quyết định của Tòa án chấm dứt quyền trực tiếp nuôi dưỡng của bên này và chuyển giao cho bên kia hoặc người giám hộ; đồng thời xác lập lại nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom con chung.

Chương 3: Thực tiễn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại một số Tòa án và một số kiến nghị

Chương 3 phân tích thực tế giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thông qua các bản án cụ thể:

Các trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu:

  • Do thỏa thuận phù hợp lợi ích của con: Quyết định số 93/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2018 của TAND quận Ba Đình (Hà Nội) công nhận sự thỏa thuận giữa chị Nguyễn Diệu P và anh Nguyễn Hồng P về việc chuyển giao con chung Nguyễn Hoàng N (sinh năm 2006) cho anh P nuôi dưỡng do chị P gặp khó khăn về thời gian chăm sóc và cháu N có nguyện vọng ở với bố.
  • Người trực tiếp nuôi con vi phạm pháp luật: Vụ việc tại TAND quận Hai Bà Trưng (Hà Nội), chấp nhận đơn khởi kiện ngày 10/8/2020 của chị Trần Thị Thu H giao cháu Phan Thanh Thanh A (sinh năm 2007) cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, do anh Phan Thế T (người nuôi theo quyết định ly hôn năm 2013) bị tạm giam tại Trại tạm giam T16 Bộ Công an và bị xét xử về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Người trực tiếp nuôi con cản trở quyền thăm nom và có hành vi không phù hợp: Bản án số 125/2020/HNGĐ-PT ngày 07/8/2020 của TAND TP. Hà Nội chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Hoàng L, chuyển quyền nuôi cháu Đinh Bảo K (sinh năm 2016) từ chị Nguyễn Minh N sang cho anh L, do chị N thường xuyên ngăn cản anh L thăm con, gây rối trật tự công cộng, xô xát tại trường học và cơ quan anh L, không chăm sóc tốt thể chất cho con.
  • Người trực tiếp nuôi con bị chết: Bản án số 38/2021/HNGĐ-ST ngày 28/9/2021 của TAND huyện Sông Lô (Vĩnh Phúc) chấp nhận đơn của chị Nguyễn Thị T, buộc bà nội Đỗ Thị L giao cháu Dương Quốc K (sinh năm 2010) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi anh Dương Tiến N (người được giao nuôi con sau ly hôn) qua đời vào ngày 07/02/2021.

Các trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu:

  • Không chứng minh được đối phương vi phạm nghĩa vụ và hành vi không cấu thành cản trở thăm nom: Bản án phúc thẩm số 02/2019/HNGĐ-PT ngày 18/01/2019 của TAND tỉnh Kiên Giang bác đơn của bà L đòi quyền nuôi cháu Lê Hoàng Lan A (sinh năm 2014). Tòa xác định việc ông L không đồng ý cho bà L đưa con đi chơi 1 tháng không phải là hành vi cản trở quyền thăm nom; ông L đã có công việc ổn định trên đất liền, chăm sóc con tốt cùng gia đình nội.
  • Không có chứng cứ chứng minh người nuôi con không còn đủ điều kiện: Bản án sơ thẩm số 40/2022/HNGĐ-ST ngày 26/5/2022 của TAND quận Cầu Giấy (Hà Nội) bác yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh T đòi nuôi cháu Trần Nguyễn Minh P từ anh Trần Văn T, do chị T không xuất trình được chứng cứ chứng minh cháu P bị ảnh hưởng tâm lý hay thiếu thốn điều kiện sống tại gia đình bố.

Vướng mắc pháp lý và bất cập thực tiễn phát hiện:

  1. Vấn đề cản trở quyền thăm nom: Nhiều Hội đồng xét xử cho rằng dù có hành vi cản trở thăm nom nhưng nếu người nuôi con vẫn bảo đảm điều kiện ăn ở, học tập cho con thì chưa đủ căn cứ thay đổi theo Điều 84 Luật HN&GĐ 2014.
  2. Bất cập trong thủ tục lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi:
    • Hình thức: Chưa có quy định thống nhất (Tòa lấy lời khai trực tiếp vào biên bản, đưa giấy tự viết hoặc nhận bản tự khai do cha mẹ nộp). Hình thức gián tiếp qua bản tự khai dễ dẫn đến tình trạng cha mẹ ép buộc, viết thay hoặc làm giả chữ ký của trẻ.
    • Địa điểm: Thiếu sự đồng bộ (thực hiện tại trụ sở Tòa án, trường học, UBND cấp xã hoặc tại nhà).
    • Thời điểm: Còn xung đột quan điểm về việc lấy ý kiến trước hay sau phiên hòa giải. Tác giả ủng hộ quan điểm lấy ý kiến trước khi hòa giải để làm cơ sở định hướng cho các bên đương sự thỏa thuận.
    • Giá trị pháp lý: Tranh luận giữa việc coi lấy ý kiến là thủ tục bắt buộc trong tố tụng hay chỉ là yếu tố tham khảo.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ, điều kiện, chủ thể, trình tự thủ tục tố tụng và hậu quả pháp lý của chế định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Phân tích chi tiết 06 vụ việc thực tế từ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm trong giai đoạn 2018 - 2022, làm rõ ranh giới giữa các trường hợp được Tòa án chấp thuận và bị bác đơn.

Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:

  1. Bổ sung căn cứ pháp lý tại Điều 84: Đề xuất ghi nhận hành vi cản trở quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con là một căn cứ pháp lý độc lập, rõ ràng để Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  2. Chuẩn hóa quy trình lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi: Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về hình thức lấy ý kiến (ưu tiên tiếp xúc trực tiếp thân thiện, hạn chế nhận bản tự khai gián tiếp qua cha mẹ), xác định thời điểm thực hiện trước phiên hòa giải và quy định rõ cơ chế bảo đảm tính trung thực của lời khai.
  3. Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành: Tăng cường vai trò tham gia tố tụng và giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em và Hội Liên hiệp Phụ nữ trong các vụ việc tranh chấp nuôi dưỡng con sau ly hôn.

Đóng góp của đề tài: Khóa luận đã tiếp cận chuyên sâu và độc lập vào chế định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn dưới góc độ pháp luật thực định hiện hành kết hợp khảo sát thực tiễn án văn mới (2019 - tháng 6/2023), chỉ ra các xung đột giữa lý luận và thực tiễn xét xử mà các công trình trước đây chỉ đề cập khái quát trong phạm vi tranh chấp ly hôn nói chung.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của khóa luận tập trung vào một số bản án, quyết định điển hình tại một số địa bàn Tòa án cụ thể (Hà Nội, Kiên Giang, Vĩnh Phúc) trong giai đoạn từ năm 2019 đến tháng 6 năm 2023, chưa bao quát toàn bộ thực tiễn xét xử trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh án lệ và số liệu thống kê xét xử trên diện rộng toàn quốc; theo dõi, đánh giá việc thực thi các thông tư liên tịch và nghị quyết hướng dẫn mới của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình làm tài liệu tham khảo cho các khóa luận, luận văn liên quan đến quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn và bảo vệ quyền trẻ em.
    • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và người làm công tác bảo vệ trẻ em có thể tham khảo các phân tích tình huống án văn, cơ sở pháp lý và vướng mắc tố tụng.
    • Các đương sự trong quan hệ hôn nhân gia đình có nhu cầu tìm hiểu điều kiện, căn cứ và thủ tục để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con chung.
  • Nội dung giá trị nhất: Hệ thống phân tích 06 bản án thực tế tại Chương 3 cùng các phân tích chuyên sâu về thủ tục tố tụng và quy trình lấy ý kiến của trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những căn cứ nào để Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con?

Theo Khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong hai căn cứ: (1) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; (2) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Những chủ thể nào có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con?

Theo Khoản 1 và Khoản 5 Điều 84, các chủ thể gồm: người không trực tiếp nuôi con; người thân thích của con (theo Khoản 19 Điều 3); cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; và Hội Liên hiệp Phụ nữ (khi có căn cứ chứng minh người nuôi con không còn đủ điều kiện).

3. Việc lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên được pháp luật quy định và áp dụng như thế nào?

Theo Khoản 2 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 26 Mục IV Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên với phương pháp bảo đảm thân thiện, giữ bí mật cá nhân và phù hợp tâm lý lứa tuổi. Tuy nhiên, nguyện vọng của con là yếu tố tham khảo quan trọng chứ không phải là điều kiện duy nhất mang tính quyết định phán quyết của Tòa án.

4. Người trực tiếp nuôi con qua đời hoặc vi phạm pháp luật thì Tòa án giải quyết quyền nuôi con ra sao?

Thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án chấp nhận giao con cho người cha/mẹ còn lại nếu họ có đủ điều kiện nuôi dưỡng và không bị hạn chế quyền cha mẹ (như Bản án số 38/2021/HNGĐ-ST khi người bố chết giao con cho mẹ; hoặc bản án tại TAND quận Hai Bà Trưng khi người bố bị tạm giam về tội lừa đảo thì giao con cho người mẹ trực tiếp nuôi).

5. Thủ tục giải quyết thay đổi người nuôi con được phân biệt ra sao giữa việc dân sự và vụ án dân sự?

Nếu cha mẹ đạt được sự tự nguyện thỏa thuận, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự (Khoản 3 Điều 29 và các Điều 363-371 BLTTDS 2015). Nếu các bên phát sinh tranh chấp hoặc do cơ quan, tổ chức, người thân thích khởi kiện mà không thỏa thuận được, Tòa án thụ lý và xét xử theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự (Khoản 3 Điều 28 và Điều 190-222 BLTTDS 2015).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Ánh Ngọc đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lập pháp và khung pháp luật thực định về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Thông qua việc mổ xẻ các bản án thực tiễn tại Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2019 - tháng 6/2023, công trình đã làm rõ các vướng mắc tố tụng nổi bật, đặc biệt là quy trình lấy ý kiến của trẻ em và căn cứ xử lý hành vi cản trở quyền thăm nom. Các đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật và chuẩn hóa nghiệp vụ xét xử được nêu trong khóa luận mang giá trị thực tiễn đối với công tác lập pháp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của trẻ em sau ly hôn.