Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu đánh giá sức tải một số yếu tố môi trường (C, N, P) khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế)" do nghiên cứu sinh Cao Thị Thu Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trịnh Thành (Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) và GS.TS. Trần Đức Thạnh (Viện Tài nguyên và Môi trường biển), hoàn thành vào tháng 2 năm 2019 tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế là hệ đầm phá ven bờ lớn nhất Việt Nam, nơi lưu giữ gần 1.000 loài động thực vật thủy sinh có giá trị kinh tế. Vùng đầm phá chịu áp lực mạnh mẽ từ các hoạt động kinh tế - xã hội như nông nghiệp, khai thác thủy sản, giao thông - cảng biển, du lịch - dịch vụ và đặc biệt là nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, đầm phá còn là nơi tiếp nhận nguồn thải ven bờ của các huyện lân cận và khu vực miền núi thuộc lưu vực đổ về.
Mỗi hệ thống tự nhiên có khả năng chịu tải hữu hạn; khi lượng chất ô nhiễm vượt qua ngưỡng tự làm sạch tự nhiên (bao gồm các quá trình cơ học, hóa học và sinh học), cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái sẽ bị biến đổi, dẫn đến nguy cơ suy thoái chất lượng nước và cạn kiệt nguồn giống thủy sản. Các hoạt động phát triển ven bờ làm cho tải lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng đưa vào hệ đầm phá không ngừng gia tăng. Trong khi đó, việc đánh giá định lượng sức tải môi trường đối với các hợp chất hữu cơ và dinh dưỡng dựa trên công cụ mô hình hóa số trị và cân bằng khối lượng chưa được thực hiện đầy đủ trên toàn hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý nguồn thải và quy hoạch phát triển bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là: Đánh giá được sức chịu tải của một số yếu tố môi trường (C, N, P) trong hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai làm cơ sở cho quản lý, phát triển bền vững hệ đầm phá.
Nội dung nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phân tích, đánh giá và dự báo tải lượng ô nhiễm từ các nguồn đưa vào hệ đầm phá.
- Mô phỏng lan truyền các chất ô nhiễm trong hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai theo các kịch bản cơ sở (năm 2011 – 2012), kịch bản năm 2020, 2030 và kịch bản đột xuất.
- Nghiên cứu, tính toán sức tải hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đối với các chất hữu cơ và chất dinh dưỡng theo các ngưỡng của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN), ngưỡng sức tải tối đa (kịch bản nguy hiểm) và ngưỡng đề xuất bảo vệ đời sống động vật thủy sinh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hợp chất cacbon, nitơ, phospho trong môi trường nước (BOD5, COD, amoni $N-NH_4^+$, nitrat $N-NO_3^-$, nitrit $N-NO_2^-$, phosphat $P-PO_4^{3-}$, tổng nitơ T-N, tổng phospho T-P) và các nguồn thải đổ vào hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.
- Phạm vi không gian: Không gian hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và các vùng phụ cận có nguồn thải xả trực tiếp hoặc gián tiếp vào đầm phá (thuộc 5 huyện, thị xã: Phong Điền, Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền, Hương Trà và các khu vực lân cận như TP. Huế, Nam Đông, A Lưới, Hương Thủy).
- Phạm vi thời gian: Đo đạc, khảo sát thực địa trong mùa mưa (tháng 11) và mùa khô (tháng 5) các năm 2011, 2012; kiểm định bổ sung năm 2016, 2017; chuỗi dữ liệu môi trường thu thập giai đoạn 2004 - 2012; dự báo tải lượng thải và tính toán sức tải môi trường cho các năm 2020 và 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu sức tải môi trường trên thế giới
Luận án đã tổng hợp các hướng tiếp cận chính về sức tải môi trường (STMT) trên thế giới:
-
Mô hình sinh địa hóa - dinh dưỡng xác định mật độ nuôi trồng tối đa:
Các công trình của Pedro Duarte và cộng sự (2003), Brigolin và cs (2008), Ramón và cs (2010), Carrie Byron và cs (2011), Lotta và cs (2016) tập trung vào xác định sức tải sinh thái và sản xuất cho các loài hai mảnh vỏ, cá, tôm. Tại vịnh Goseung (Hàn Quốc), mô hình HEM-3D được áp dụng để mô phỏng tương tác giữa tăng trưởng của ngao và chất lượng nước, xác định mật độ thả giống hợp lý là 16 cá thể/$\text{m}^3$ tương ứng sức tải 1.500 MT trọng lượng thịt. Nakata và cs (1983) đã xây dựng mô hình hệ sinh thái kết hợp thủy động lực 3D, mô hình sinh thái và tăng trưởng ngao. Tại vịnh Hiroshima (Nhật Bản), mô hình hệ sinh thái giai đoạn 1984 - 1996 xác định ngưỡng tải lượng phospho tổng số từ sông Ohta cần duy trì ở mức 0,5 tấn/ngày với nồng độ chlorophyll a tầng trên đạt 7 $\mu\text{g/L}$ để đảm bảo sản lượng nuôi ngao bền vững. Paul Shin (2003) nghiên cứu cân bằng oxy hòa tan trong nuôi cá biển và chỉ ra nhu cầu tiêu thụ oxy $83 - 400 \text{ g } \text{O}_2/\text{tấn/h}$, yêu cầu $17 - 57 \text{ m}^3\text{/h}$ nước biển sạch để bù đắp cho mỗi tấn cá nuôi.
-
Tính toán tổng tải lượng thải tối đa hàng ngày (TMDL) và mô phỏng lan truyền ô nhiễm:
Năm 1986, Nhóm Chuyên gia về các Khía cạnh Khoa học của Ô nhiễm Biển (GESAMP) đưa ra công thức xác định năng lực tải tối đa của thủy vực:
$$EC_{max} = \frac{(C_{tiêu\ chuẩn} - C_{hiện\ tại}) \cdot V}{\tau}$$
Trong đó $V$ là thể tích thủy vực và $\tau$ là thời gian lưu của nước. Hướng tiếp cận này được phát triển mạnh thông qua các mô hình số trị: Phòng Sinh thái bang Washington (1999) dùng mô hình WASP5 tại cửa sông Snohomish; EPA Hoa Kỳ tính toán TMDL thủy ngân tại hồ Yonah (2005); Enhui và cs (2013) nghiên cứu tại vịnh Hạ Môn (Trung Quốc) đề xuất giảm 67 - 74% tải lượng thải từ 22 nguồn xả; Li KeQiang và cs (2012, 2014) tính toán sức tải chì tại vịnh Jiaozhou (60 tấn/năm) và kẽm (17 tấn/tháng), cadmi (8 tấn/tháng) tại vịnh Jinzhou; Zhao và cs (2012, 2015) nghiên cứu hồ Fuxian (yêu cầu giảm 66% TN, 68% TP, 57% COD) và vịnh Quanzhou; Dingjiang và cs (2012) tại sông ChangLe; Ruibin Zhang và cs (2012) tính toán năng lực môi trường sông Hồng Kỳ (lưu vực hồ Taihu); Boyacioglu & Alpaslan (2008) tại lưu vực Tahtali (Thổ Nhĩ Kỳ); Chang Hee-Lee (2003) áp dụng hệ thống TPLMS tại hồ Shihwa (Hàn Quốc) với mục tiêu COD đạt 2 ppm; Ayeon Lee và cs (2013) dùng mô hình HSPF tại lưu vực Anyangcheon (Hàn Quốc) giúp giảm nồng độ BOD từ 11,21 mg/L xuống 7,39 mg/L.
-
Xây dựng hệ thống chỉ thị và quy trình phân tích phân cấp (AHP):
Yongquan Yin (2010) tại vùng Shandong Rencheng (chỉ số tổng hợp CAI giảm từ 3,149 năm 2007 xuống 0,829 năm 2010); Meriem Naimi Ait-Aoudia và cs (2016) đánh giá sức tải nguồn nước tại Algiers cho quy mô 7 triệu dân theo tiêu chuẩn WHO; Shuping Wang (2017) lọc 34 yếu tố trọng yếu từ 124 thông số tại vùng biển Thanh Đảo; Han Mei và cs (2010) phân loại sức tải môi trường nước thành 4 nhóm bản chất.
-
Các hướng tiếp cận khác: Bacher (2008) phân chia sức tải thành 4 cấp bậc: sản xuất, sinh thái, điều tiết và xã hội. Tại Thái Lan, các nghiên cứu tập trung vào tải lượng BOD, TN, TP trên 4 lưu vực sông chính đổ ra vịnh Thái Lan (Chao Phraya, Tha Chin, Mae Klong, Bang Pakong) và kế hoạch quản lý lưu vực sông Tha Chin giai đoạn 2000 - 2009.
Tình hình nghiên cứu trong nước và khu vực Tam Giang - Cầu Hai
- Khung pháp lý và nghiên cứu sức tải tại Việt Nam: Khái niệm sức chịu tải môi trường được ghi nhận trong Luật Bảo vệ Môi trường 2005 và Luật Bảo vệ Môi trường 2014. Các nghiên cứu ban đầu gồm có: Nguyễn Chí Công và cs (2007) trên hạ lưu sông Thương; Huỳnh Thị Minh Hằng và cs (2006) trên lưu vực sông Đồng Nai; Võ Duy Sơn và Nguyễn Tác An (2001) dùng đồng vị đánh dấu tính sức tải đầm Thủy Triều và Nha Phu (ngưỡng $\text{BOD}_5 \le 5 \text{ mg/L}$, $\text{chlorophyll } a \le 7 \ \mu\text{g/L}$); Hoàng Dương Tùng (2004) áp dụng mô hình Delft-3D mô phỏng lan truyền ô nhiễm tại Hồ Tây; các nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường biển tại đảo Cát Bà, vịnh Hạ Long - Bái Tử Long, sông Bạch Đằng.
- Nghiên cứu tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai: Trần Đức Thạnh (1985) xác lập kiểu loại hệ sinh thái đầm phá ven bờ; hội thảo khoa học năm 1994 mở đầu cho các nghiên cứu hệ thống; các công trình đánh giá chất lượng nước, trầm tích và sinh thái của Nguyễn Hữu Cử (2006), Trần Đức Thạnh (2008, 2009), Nguyễn Huy Yết (2011), Nguyễn Huy Anh (2012); các khảo sát ô nhiễm kim loại nặng, PCBs, PAHs của dự án IMOLA - Italia (2007 - 2008).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai mới tập trung vào quan trắc chất lượng nước tĩnh, khảo sát đa dạng sinh học hoặc mô phỏng thủy động lực đơn thuần. Các nghiên cứu sức tải trong nước trước đó thường tính toán theo công thức tĩnh đơn giản của GESAMP (chỉ phụ thuộc thời gian lưu và giới hạn nồng độ quy chuẩn) mà chưa phản ánh được quá trình biến đổi sinh - địa - hóa theo không gian và thời gian trong thủy vực. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập quy trình tính toán sức tải môi trường tích hợp giữa mô hình thủy động lực - chất lượng nước số trị ba chiều (Delft-3D) với kiểm kê tải lượng thải đa nguồn (sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, rửa trôi đất), đồng thời xác định sức tải theo nhiều ngưỡng kịch bản (ngưỡng quy chuẩn, ngưỡng tự làm sạch tối đa và ngưỡng an toàn sinh thái).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Bản chất sức tải môi trường: Luận án dựa trên quan điểm sức tải môi trường nước là lượng chất ô nhiễm lớn nhất mà thủy vực có thể tiếp nhận mà không làm thay đổi chất lượng nước vượt quá giới hạn cho phép hoặc không làm suy thoái chức năng sinh thái.
- Cơ chế tự làm sạch tự nhiên của thủy vực: Gồm quá trình vật lý (pha loãng, xáo trộn dòng chảy, khuếch tán, lắng đọng trầm tích, bay hơi), hóa học (oxy hóa bởi oxy hòa tan, phân hủy quang hóa, phản ứng trung hòa) và sinh học (chuyển hóa hiếu khí/kỵ khí bởi vi sinh vật, quá trình nitrat hóa và phản nitrat hóa).
- Cân bằng chất ô nhiễm trong thủy vực (Mô hình Vladimirov):
$$\Delta C = C_{vào} - C_{ra}$$
Để duy trì trạng thái bình thường của môi trường, hệ thống phải thỏa mãn: $0 < C \le \text{NĐTHCP}$ (nồng độ tới hạn cho phép) và $\Delta C < 0$.
- Khung phân tích sức tải theo 3 nhóm ngưỡng:
- Sức tải theo quy chuẩn Việt Nam: Dựa trên giới hạn nồng độ của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (chất lượng nước mặt) và QCVN 10-MT:2015/BTNMT (chất lượng nước biển ven bờ - vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh).
- Sức tải tối đa (kịch bản nguy hiểm): Xác định khả năng đồng hóa cực hạn của thủy vực trước khi hệ thống rơi vào trạng thái suy thoái không thể phục hồi.
- Ngưỡng sức tải đề xuất: Thiết lập các giới hạn nồng độ đảm bảo an toàn cho đời sống và sự phát triển của động thực vật thủy sinh trong đầm phá.
Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trường và phân tích phòng thí nghiệm:
- Thực hiện đo đạc mặt cắt dòng chảy, độ sâu và quan trắc chất lượng nước liên tục trong mùa mưa (25 - 26/11/2011) và mùa khô (19 - 20/5/2012), kết hợp đợt kiểm định tháng 4/2017 tại đầm Cầu Hai.
- Các thông số phân tích: nhiệt độ, pH, độ muối, độ đục, DO, $\text{BOD}_5$, COD, các dạng dinh dưỡng ($N-NO_2^-$, $N-NO_3^-$, $N-NH_4^+$, $P-PO_4^{3-}$, silicat), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd, As, Hg), hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo (Lindan, Aldrin, Dieldrin, Endrin, DDE, DDD, DDT) và dầu mỡ.
-
Phương pháp tính toán và ước tính tải lượng thải:
- Sử dụng phương pháp hệ số phát thải của WHO và các tiêu chuẩn định mức ngành để tính toán tải lượng ô nhiễm phát sinh và tải lượng thải thực tế đưa vào đầm phá từ 5 nguồn:
- Nước thải sinh hoạt: Tính theo định mức phát thải bình quân đầu người của dân số 5 huyện/thị xã ven đầm phá (615.946 người năm 2016) và khách du lịch.
- Nước thải công nghiệp: Tính theo lưu lượng và nồng độ đặc trưng của các ngành sản xuất trong khu vực (dệt may, sản xuất sợi, chế biến...).
- Nước thải chăn nuôi: Tính toán dựa trên số lượng đàn gia súc, gia cầm (trâu, bò, lợn, gia cầm) nhân với hệ số phát thải (kg/con/năm).
- Nuôi trồng thủy sản: Dựa trên diện tích canh tác (7.175 ha năm 2016) và hệ số phát sinh chất thải theo vụ nuôi.
- Rửa trôi bề mặt: Dựa trên diện tích các lưu vực đất, lượng mưa và hệ số rửa trôi ($\text{kg/km}^2\text{/ngày mưa}$).
- Dự báo tải lượng ô nhiễm phát sinh và đưa vào đầm phá cho các mốc năm 2020 và 2030.
-
Phương pháp mô hình hóa số trị (Bộ công cụ Delft-3D):
- Mô hình thủy động lực (Delft3D-FLOW): Xây dựng lưới tính toán cong trực giao bao trùm toàn bộ không gian đầm phá Tam Giang - Cầu Hai; gán địa hình đáy từ số liệu đo đạc; thiết lập điều kiện biên sông (lưu lượng các sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông Truồi, sông Cầu Hai) và điều kiện biên biển (dao động mực nước triều tại cửa Thuận An và cửa Tư Hiền). Hiệu chỉnh hệ số nhám Manning ($n$), hệ số khuếch tán ngang ($D_H$) và độ nhớt ngang ($\nu_H$).
- Mô hình chất lượng nước (Delft3D-WAQ): Tích hợp trường vận tốc từ mô hình thủy động lực để mô phỏng sự lan truyền, khuếch tán và chuyển hóa các hợp chất C, N, P. Hiệu chỉnh các tham số sinh hóa: tốc độ tiêu thụ oxy sinh hóa, hằng số nitrat hóa, tốc độ lắng đọng, nhu cầu oxy đáy (SOD), quá trình hấp phụ - giải phóng phosphat.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Chương I trình bày cơ sở lý luận về sức tải môi trường, tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, cùng đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và diễn biến môi trường hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.
-
Đặc điểm tự nhiên, thủy hải văn khu vực nghiên cứu:
- Địa hình - hình thái: Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trải dài ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, gồm ba phần chính: phá Tam Giang, đầm Sam - Thủy Tú và đầm Cầu Hai; nối với biển Đông qua hai cửa Thuận An và Tư Hiền.
- Thủy văn sông: Lưu vực tiếp nhận nước từ các hệ thống sông chính với tổng lượng dòng chảy tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 9 - 12, chiếm 70 - 75% lượng dòng chảy cả năm). Mùa lũ chính vụ xuất hiện vào tháng 10 - 11; mùa kiệt vào tháng 3 - 4 và tháng 7 - 8 chỉ chiếm 20 - 25% tổng dòng chảy.
- Chế độ thủy triều và dòng chảy: Vùng Tam Giang và khu vực gần cửa Thuận An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều đều với biên độ triều nhỏ (35 - 50 cm). Vùng đầm Cầu Hai và cửa Tư Hiền chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều với biên độ dao động triều lớn hơn (55 - 100 cm).
- Tốc độ dòng chảy tầng mặt tại cửa Thuận An: Mùa khô khi triều lên đạt trung bình 51 cm/s (cực đại 87 cm/s), triều xuống đạt trung bình 42 cm/s (cực đại 68 cm/s). Mùa mưa khi triều xuống đạt trung bình 54 cm/s (cực đại 105 cm/s). Tại đầm Cầu Hai, tốc độ dòng chảy ở mức rất nhỏ trong cả mùa khô và mùa mưa.
-
Đặc điểm kinh tế - xã hội liên quan:
- Vùng đầm phá gồm 5 huyện, thị xã (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc) với dân số 615.946 người (năm 2016), mật độ 232 người/$\text{km}^2$.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng mạnh từ 2.200 ha (năm 2000) lên 4.650 ha (năm 2006), 5.884 ha (năm 2010) và đạt 7.175 ha vào năm 2016.
- Đàn gia súc gia cầm khu vực năm 2016 đạt 22,4 nghìn con trâu, 33,6 nghìn con bò, 205,6 nghìn con lợn và 2,7 triệu con gia cầm.
-
Diễn biến chất lượng môi trường nước giai đoạn 2004 - 2012:
| Thông số |
Phá Tam Giang |
Đầm Sam - Thủy Tú |
Đầm Cầu Hai |
QCVN đối chiếu |
| Nhiệt độ ($^\circ\text{C}$) |
24,08 - 32,20 |
24,08 - 32,90 |
24,02 - 33,10 |
- |
| pH |
6,88 - 8,03 |
7,25 - 8,39 |
7,14 - 8,52 |
6,5 - 8,5 |
| Độ muối ($\text{‰}$) |
0,50 - 25,70 |
3,00 - 31,70 |
2,00 - 24,00 |
- |
| DO ($\text{mg/L}$) |
5,82 - 7,95 |
4,70 - 8,40 |
5,60 - 7,90 |
$\ge 5$ |
| $\text{BOD}_5$ ($\text{mg/L}$) |
0,72 - 5,34 |
0,50 - 5,33 |
0,40 - 5,20 |
$\le 6$ |
| $\text{COD}$ ($\text{mg/L}$) |
2,50 - 10,61 |
3,85 - 12,03 |
3,69 - 19,69 |
$\le 15$ |
| $N-NO_2^-$ ($\mu\text{g/L}$) |
6,70 - 18,40 |
7,20 - 17,68 |
6,60 - 19,02 |
- |
| $N-NO_3^-$ ($\mu\text{g/L}$) |
120,8 - 196,9 |
50,0 - 204,2 |
50,0 - 187,6 |
Vượt chuẩn ASEAN (1,4 - 3,4 lần) |
| $N-NH_4^+$ ($\mu\text{g/L}$) |
33,2 - 112,5 |
24,2 - 91,0 |
17,1 - 97,65 |
Trong giới hạn QCVN |
| $P-PO_4^{3-}$ ($\mu\text{g/L}$) |
7,30 - 44,10 |
6,30 - 35,90 |
5,20 - 28,92 |
$\le 45$ (Chuẩn ASEAN) |
| Dầu mỡ ($\text{mg/L}$) |
0,19 - 0,87 |
0,19 - 0,87 |
0,19 - 0,87 |
Vượt ngưỡng QCVN |
| Kim loại nặng ($\mu\text{g/L}$) |
Cu: 2,5 - 12,21; Pb: 5 - 18; Zn: 5,75 - 59,9; Cd: 0,54 - 6,55; As: 0,01 - 8,73; Hg: 0,01 - 1,32 |
Trong giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015 |
|
|
Nhận xét từ số liệu: Chất lượng nước có dấu hiệu gia tăng nồng độ chất hữu cơ ($\text{BOD}_5$, COD) và dinh dưỡng nitrat trong giai đoạn 2008 - 2009. Nồng độ DO tại khu vực đầm Thủy Tú vào mùa khô giảm xuống mức 4,7 mg/L, cho thấy sự thiếu hụt oxy cục bộ. Các kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo (Lindan, Aldrin, Endrin, tổng DDT) nằm trong giới hạn cho phép; hàm lượng dầu mỡ vượt giới hạn quy chuẩn.
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương II mô tả chi tiết phương pháp điều tra hiện trường, phân tích trong phòng thí nghiệm, công thức tính tải lượng ô nhiễm phát sinh từ các nguồn và quy trình thiết lập mô hình Delft-3D.
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Chương III trình bày toàn bộ kết quả tính toán tải lượng thải, kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình Delft-3D, kết quả mô phỏng chất lượng nước theo các kịch bản phát triển và xác định sức tải môi trường của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.
-
Tính toán tải lượng ô nhiễm đưa vào đầm phá:
- Tổng hợp tải lượng ô nhiễm phát sinh từ các nguồn sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và rửa trôi đất của tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực ven đầm phá tại thời điểm năm 2011, dự báo cho các năm 2020 và 2030.
- Tải lượng C, N, P thực tế đưa vào đầm phá tăng dần theo các mốc thời gian do sự gia tăng dân số, mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch, dịch vụ.
-
Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình Delft-3D:
- Mô hình thủy động lực:
- Vận tốc dòng chảy theo phương ngang $U$ tại hệ đầm phá trong mùa mưa có sai số bình phương căn trung bình đạt $RSE = 0,0046$; hệ số tương hợp giữa mô hình và quan trắc đạt $R^2 = 0,696$.
- Vận tốc dòng chảy theo phương thẳng đứng $V$ trong mùa khô có sai số $RSE = 0,0042$; hệ số tương hợp đạt $R^2 = 0,690$.
- Trường tốc độ dòng chảy được mô phỏng chi tiết trong 4 pha: triều lên - mùa mưa, triều xuống - mùa mưa, triều lên - mùa khô, triều xuống - mùa khô.
- Mô hình chất lượng nước:
- Hiệu chỉnh và so sánh sai số giữa nồng độ mô phỏng và số liệu quan trắc thực tế ngày 25 - 26/11/2011 (mùa mưa) và ngày 19 - 20/5/2012 (mùa khô) cho các biến: DO, $\text{BOD}_5$, COD, $N-(NH_4^+ + NH_3)$, $N-NO_3^-$, $P-PO_4^{3-}$.
- Kiểm định mô hình bằng bộ số liệu quan trắc độc lập vào tháng 4/2017 tại đầm Cầu Hai cho thấy sai số giữa tính toán và đo đạc nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo độ tin cậy để chạy các kịch bản dự báo.
-
Mô phỏng chất lượng nước theo các kịch bản:
- Kịch bản hiện trạng (2011 - 2012): Mô phỏng chi tiết sự phân bố nồng độ DO, $\text{BOD}_5$, COD, amoni, nitrat, phosphat theo chu kỳ triều lên/xuống trong mùa khô và mùa mưa. Mùa khô là thời kỳ nhạy cảm nhất khi nồng độ chất hữu cơ tích tụ cao và oxy hòa tan suy giảm tại các khu vực ít trao đổi nước (đầm Sam - Thủy Tú và đầm Cầu Hai).
- Kịch bản phát triển năm 2020 và 2030:
- Kịch bản thấp 2020 & 2030: Phát triển kinh tế gắn liền với các biện pháp xử lý chất thải theo quy hoạch.
- Kịch bản cao 2020 & 2030: Tải lượng thải gia tăng nhanh theo tốc độ đô thị hóa và nuôi trồng thủy sản cực đại.
- Kịch bản đột xuất 2020 & 2030: Giả định xảy ra sự cố xả thải đột biến hoặc gia tăng nguồn ô nhiễm tập trung vào mùa khô kiệt nước.
-
Tính toán sức tải môi trường đối với các hợp chất C, N, P:
Luận án xác định sức tải môi trường của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai theo ba cách tiếp cận:
- Sức tải môi trường trên cơ sở Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 10-MT:2015/BTNMT và QCVN 08-MT:2015/BTNMT): Xác định lượng thải tối đa cho phép đưa vào hệ thống mà không làm nồng độ các chất vượt quá giới hạn nồng độ quy chuẩn tại các điểm kiểm soát.
- Sức tải tối đa (kịch bản nguy hiểm): Xác định năng lực đồng hóa giới hạn của đầm phá đối với các hợp chất hữu cơ và muối dinh dưỡng trước khi chất lượng nước bị phá vỡ hoàn toàn.
- Sức tải đề xuất: Xác lập mức tải lượng xả thải an toàn, phù hợp với đặc thù bảo vệ hệ sinh thái và đời sống động vật thủy sinh, dung hòa giữa yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Hệ thống hóa phương pháp luận và xây dựng thành công quy trình đánh giá sức tải môi trường cho một thủy vực đầm phá ven bờ nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam thông qua việc kết hợp kiểm kê nguồn thải đa dạng và ứng dụng mô hình số trị thủy động lực - chất lượng nước 3D (Delft-3D).
- Đóng góp vào việc làm rõ cơ chế tự làm sạch, cân bằng động học chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng (C, N, P) dưới tác động hỗn hợp của dòng chảy sông, triều biển và hình thái đặc thù của hệ đầm phá bán kín.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Xác định và lượng hóa được tải lượng các chất ô nhiễm C, N, P phát sinh và thực tế đưa vào hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai từ các hoạt động dân sinh, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và rửa trôi đất tại thời điểm 2011, dự báo đến năm 2020 và 2030.
- Thiết lập và hiệu chỉnh thành công bộ tham số động học chất lượng nước và thủy động lực của mô hình Delft-3D cho đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, có khả năng tái hiện sát thực tế diễn biến chất lượng nước theo mùa và theo pha triều.
- Tính toán định lượng các giá trị sức tải môi trường cụ thể đối với $\text{BOD}_5$, COD, $N-NH_4^+$, $N-NO_3^-$ và $P-PO_4^{3-}$ theo các ngưỡng QCVN, ngưỡng sức tải tối đa và ngưỡng đề xuất bảo vệ thủy sinh.
Kiến nghị và giải pháp quản lý
- Cần áp dụng mức sức tải môi trường đề xuất làm căn cứ khoa học để phân bổ hạn ngạch xả thải cho các ngành kinh tế ven bờ và các huyện lân cận đầm phá.
- Kiểm soát chặt chẽ nguồn thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản và nước thải sinh hoạt nông thôn; quy hoạch mật độ và diện tích nuôi trồng thủy sản phù hợp với khả năng trao đổi nước của từng phân vùng (phá Tam Giang, đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai).
- Tăng cường kiểm soát và xử lý nước thải từ các lưu vực sông đổ vào đầm phá, đặc biệt là vào mùa khô khi lưu lượng dòng chảy kiệt làm giảm khả năng pha loãng và tự làm sạch của thủy vực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
- Số liệu quan trắc chất lượng nước liên tục phục vụ hiệu chỉnh và kiểm định mô hình tập trung vào các đợt khảo sát điển hình (tháng 11/2011, tháng 5/2012 và đợt đo tháng 4/2017) nên chưa bao quát được toàn bộ các biến động thời tiết cực đoan qua nhiều năm liên tục.
- Tải lượng thải từ nguồn rửa trôi bề mặt và nguồn phân tán được ước tính chủ yếu qua hệ số phát thải lý thuyết kết hợp với điều kiện khí tượng thủy văn, chưa có điều kiện đo đạc thực tế tại tất cả các cửa xả nhỏ ven bờ.
- Luận án tập trung đánh giá sức tải đối với các yếu tố hữu cơ và dinh dưỡng trong cột nước (C, N, P), chưa tính toán chi tiết sức tải tích tụ của các hợp chất kim loại nặng và độc chất hữu cơ trong lớp trầm tích đáy.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng cập nhật chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước tự động và liên tục theo thời gian thực để nâng cao độ chính xác dự báo của mô hình.
- Tích hợp mô hình chất lượng nước với mô hình hệ sinh thái bậc cao (mô phỏng chuỗi thức ăn, thực vật phù du và sinh vật đáy) nhằm đánh giá chi tiết hơn phản ứng của hệ sinh thái đối với sự thay đổi tải lượng dinh dưỡng.
- Nghiên cứu sức tải môi trường đối với trầm tích đáy và khả năng tích lũy sinh học của các chất ô nhiễm trong chuỗi thức ăn thủy sản tại đầm phá.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên:
- Luận án cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận và quy trình từng bước áp dụng mô hình toán học Delft-3D (kết hợp FLOW và WAQ) trong việc mô phỏng thủy động lực và chất lượng nước cho các thủy vực ven bờ phức tạp.
- Cung cấp phương pháp chi tiết về cách tính toán tải lượng thải đa nguồn (sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, rửa trôi đất) bằng hệ số phát thải.
- Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách:
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế, Chi cục Thủy sản và các cơ quan quản lý lưu vực có thể sử dụng số liệu sức tải đề xuất làm cơ sở khoa học để cấp phép xả thải, kiểm soát tải lượng ô nhiễm và quy hoạch không gian nuôi trồng thủy sản.
- Cung cấp bức tranh phân vùng nhạy cảm về môi trường nước theo mùa và theo pha triều, hỗ trợ công tác cảnh báo ô nhiễm và bảo tồn đa dạng sinh học hệ đầm phá.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn những thông số môi trường nào để đánh giá sức tải và vì sao?
Luận án lựa chọn các hợp chất của cacbon ($\text{BOD}_5$, COD), nitơ ($N-NH_4^+$, $N-NO_3^-$, $N-NO_2^-$, T-N) và phospho ($P-PO_4^{3-}$, T-P). Lý do là vì các nguồn thải chính đổ vào đầm phá Tam Giang - Cầu Hai chủ yếu xuất phát từ nước thải sinh hoạt dân cư, hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và nước rửa trôi đất; đây là các nguồn chứa hàm lượng rất cao chất hữu cơ và muối dinh dưỡng khoáng.
2. Mô hình số trị nào được tác giả sử dụng và kết quả hiệu chỉnh đạt độ tin cậy ra sao?
Tác giả sử dụng bộ mô hình Delft-3D gồm hai mô-đun: Delft3D-FLOW (mô phỏng thủy động lực học) và Delft3D-WAQ (mô phỏng chất lượng nước). Kết quả hiệu chỉnh thủy động lực cho thấy độ tương thích tốt giữa số liệu mô phỏng và quan trắc thực địa:
- Vận tốc phương ngang $U$ trong mùa mưa có sai số $RSE = 0,0046$ và hệ số tương hợp $R^2 = 0,696$.
- Vận tốc phương đứng $V$ trong mùa khô có sai số $RSE = 0,0042$ và hệ số tương hợp $R^2 = 0,690$.
- Mô hình chất lượng nước được kiểm định bằng số liệu đo đạc thực tế tháng 11/2011, tháng 5/2012 và kiểm định độc lập vào tháng 4/2017 tại đầm Cầu Hai cho kết quả sai số nhỏ.
3. Diễn biến chất lượng nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai giai đoạn 2004 - 2012 có những đặc điểm gì đáng chú ý?
Giai đoạn 2004 - 2012 cho thấy xu hướng suy giảm hàm lượng oxy hòa tan (DO) và gia tăng hàm lượng chất hữu cơ ($\text{BOD}_5$, COD) cũng như nitrat ($N-NO_3^-$), đặc biệt rõ rệt trong giai đoạn 2008 - 2009. Hàm lượng DO tại đầm Thủy Tú vào mùa khô giảm xuống 4,7 mg/L. Hàm lượng nitrat vượt tiêu chuẩn ASEAN từ 1,4 đến 3,4 lần. Nồng độ dầu mỡ vượt giới hạn quy chuẩn ($0,19 - 0,87 \text{ mg/L}$), trong khi các kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo vẫn nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015/BTNMT.
4. Sức tải môi trường của đầm phá được tính toán theo những ngưỡng nào?
Luận án tiếp cận tính toán sức tải môi trường theo ba ngưỡng kịch bản:
- Sức tải trên cơ sở Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 08-MT:2015/BTNMT và QCVN 10-MT:2015/BTNMT).
- Sức tải tối đa (kịch bản nguy hiểm, phản ánh khả năng tự làm sạch cực hạn của đầm phá).
- Sức tải môi trường đề xuất nhằm đảm bảo an toàn cho đời sống và sự phát triển của động thực vật thủy sinh.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Cao Thị Thu Trang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu định lượng hóa tải lượng ô nhiễm và sức chịu tải môi trường đối với các hợp chất C, N, P tại hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai bằng việc ứng dụng mô hình số trị Delft-3D. Công trình đã kết hợp đồng bộ giữa điều tra khảo sát hiện trường, phân tích phòng thí nghiệm và mô phỏng toán học đa kịch bản cho các mốc thời gian 2011, 2020 và 2030. Kết quả tính toán sức tải môi trường theo các ngưỡng quy chuẩn, ngưỡng tối đa và ngưỡng đề xuất là nguồn tư liệu khoa học quan trọng phục vụ trực tiếp công tác quản lý nguồn thải, kiểm soát ô nhiễm và định hướng phát triển bền vững vùng đầm phá ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế.