mở đầu cho hoạt động lưu thông hàng hóa, (T-H) tiền- hàng mua hàng là một hoạt động cơ bản của kinh doanh thương mại (mua – dự trữ - bán). Nếu không mua được hàng hoặc mua hàng không đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh thì doanh nghiệp thương mại không có hàng để bán. Nếu doanh nghiệp thương mại mua phải hàng xấu, hàng giả, hàng chất liệu kém hoặc mua không đủ số lượng, chất lượng hàng hóa, không đúng thời gian yêu cầu thì doanh nghiệp thương mại sẽ bị ứ đọng hàng hóa, vốn lưu động lưu chuyển chậm, doanh thu không bù đắp được chi phí doanh nghiệp sẽ không có lãi. Điều này chỉ rõ vị trí quan trọng của hoạt động tạo nguồn mua hàng, có ảnh hưởng trực tiếp đến đến các nghiệp vụ kinh doanh khác và đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
b) Vai trò của công tác tạo nguồn và mua hàng đối với hoạt động kinh doanh Theo Hoàng Minh Đường và Nguyễn Thừa Lộc (2005), công tác tạo nguồn hàng và mua hàng làm đạt hiệu quả cao sẽ có tác động tích cực nhiều mặt đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại: Thứ nhất, nguồn hàng là một điều kiện quan trọng của hoạt động kinh doanh. Nếu không có nguồn hàng doanh nghiệp thương mại không thể tiến hành kinh doanh được. Vì vậy, doanh nghiệp thương mại phải chú ý thích đáng đến tác động của nguồn hàng và phải bảo đảm công tác tạo nguồn và mua hàng diễn ra đúng tiến độ, đúng vị trí của nó và phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: tạo nguồn và mua hàng phải phù hợp với nhu cầu, thị hiếu, xu hướng của khách hàng đảm bảo về số lượng hàng, chất lượng, quy cách, cỡ loại, màu sắc và phù hợp thời gian và đúng nơi giao yêu cầu; phải đảm bảo nguồn hàng ổn định, vững chắc, phong phú và ngày càng tăng lên, phải Downloaded by Quang Quang (khoa31141020806@gmail.com) lOMoARcPSD|15978022 6 đảm bảo đa dạng hóa nguồn hàng và phù hợp với xu hướng tiêu dùng của khách hàng, phải đảm bảo sự linh hoạt và đổi mới nguồn hàng theo sát thị trường. Thứ hai, tạo nguồn và mua hàng phù hợp với nhu cầu khách hàng giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại tiến hành thuận lợi, kịp thời, đẩy mạnh được tốc độ luân chuyển hàng hóa, rút ngắn được thời gian lưu thông hàng hóa trong vận chuyển (T- H- T); vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp thương mại bán hàng nhanh, vừa thu hút được nhiều khách hàng, vừa bảo đảm uy tín với khách hàng, vừa bảo đảm doanh nghiệp thương mại thực hiện được việc cung ứng hàng hóa liên tục, ổn định, không bị gián đoạn.
Thứ ba, tạo nguồn và mua hàng làm tốt giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại bảo đảm tính ổn định, chắc chắn, hạn chế được các rủi ro; đặc biệt hạn chế được tình trạng thừa, thiếu, hàng ứ đọng, chậm luận chuyển, hàng kém phẩm chất, hàng lỗi thời, hàng không bán được vừa gây chậm trễ, khó khăn cho khâu dự trữ và bán hàng, vừa ảnh hướng tới kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Thứ tư, tạo nguồn và mua hàng làm tốt còn có tác dụng lớn giúp cho hoạt động tài chính của doanh nghiệp thương mại thuận lợi. Thu hồi được vốn nhanh, có tiền bù đắp các khoản chi phí kinh doanh, có lợi nhuận để mở rộng và phát triển kinh doanh, tăng thêm thu nhập cho người lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước (thuế) và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thương mại. Công tác tạo nguồn và mua hàng làm tốt có tác động tích cực nhiều mặt đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại như trên đã phân tích.
Hơn nữa, nó còn có tác dụng tích cực đối với lĩnh vực sản xuất hoặc nhập khẩu (lĩnh vực nguồn hàng) mà doanh nghiệp thương mại có quan hệ. Nó đảm bảo thị trường ổn định cho doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu. Nó thúc đẩy sản xuất và nhập khẩu tăng cường khả năng có thể và mở rộng thị trường, ổn định điều kiện cung ứng hàng hóa. Ngược lại, nếu doanh nghiệp thương mại không chú ý tới hoạt động tạo nguồn mua hàng, không đặt đúng vị trí của nó trong hoạt động kinh doanh sẽ gây ra những rủi ro trong kinh doanh.
Vì vậy đối với doanh nghiệp thương mại, muốn phát triển và mở rộng kinh doanh, việc đảm bảo nguồn hàng đảm bảo chất lượng tốt, có nguồn cung ứng dồi dào, phong phú, ổn định, lâu dài, giá cả phải chăng là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự thăng tiến của doanh nghiệp thương mại và vị thế của doanh nghiệp trên thương Downloaded by Quang Quang (khoa31141020806@gmail.com) lOMoARcPSD|15978022 7 trường cũng như nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại (Hoàng Minh Đường và Nguyễn Thừa Lộc (2005). Sự khác nhau giữa tạo nguồn và mua hàng Theo Nguyễn Thừa Lộc và Trần Văn Bão (2016), sự khác nhau giữa tạo nguồn và mua hàng ở chỗ: Tạo nguồn hàng là doanh nghiệp phải trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu cụ thể của khách hàng, phản ánh nhu cầu tiêu dùng đối với nhà sản xuất để họ tổ chức sản xuất hoặc để tự doanh nghiệp thương mại bằng nguồn lực của chính mình sảm xuất, gia công, tạo ra nguồn hàng rồi mới đặt mua. Mua hàng là nghiên cứu thị trường hàng hóa có sẵn và đặt mua. Ưu điểm của các hình thức tạo nguồn là doanh nghiệp thương mại chủ động về số lượng, chất lượng, chủng loại, thời gian có hàng, tuy nhiên giá cả có thể cao hơn và dễ gặp rủi ro khi khách hàng thay đổi nhu cầu.
Hình thức mua hàng sẽ dễ dàng lựa chọn được hàng hóa có giá cả phải chăng, không phải đầu tư vào sản xuất, ít rủi ro khi nhu cầu khách hàng thay đổi. Nhưng không chủ động được về số lượng, chất lượng, thời gian. Tạo nguồn và mua hàng đều nhằm mục đích chung là tạo ra lực lượng hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường để đảm bảo hàng hóa kinh doanh trong kỳ kế hoạch. Phân loại nguồn hàng của doanh nghiệp Phân loại nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại là việc phân chia, sắp xếp các loại hàng hóa mua được theo các tiêu thức cụ thể, riêng biệt để doanh nghiệp thương mại có chính sách, biện pháp thích hợp để khai thác tối đa lợi thế của mỗi loại nguồn hàng, để đảm bảo ổn định nguồn hàng.
Theo Hoàng Minh Đường và Nguyễn Thừa Lộc (2005), các nguồn hàng của doanh nghiệp thường được phân loại dựa trên các tiêu thức sau: Theo khối lượng hàng hóa mua được Theo tiêu thức này, nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại được chia thành: - Nguồn hàng chính: là nguồn hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối lượng hàng hóa mà doanh nghiệp thương mại mua được để cung ứng cho các khách hàng (thị trường) trong kỳ. Nguồn hàng chính là nguồn quyết định về khối lượng hàng hóa mà doanh nghiệp thương mại sẽ cung ứng hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nên phải có sự quan tâm thường xuyên. Downloaded by Quang Quang (khoa31141020806@gmail.com) lOMoARcPSD|15978022 8 - Nguồn hàng phụ, mới: đây là nguồn hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối lượng hàng mua được. Khối lượng thu mua của nguồn hàng này không ảnh hưởng lớn đến khối lượng hoặc doanh số bán của doanh nghiệp thương mại.
Tuy nhiên, doanh nghiệp thương mại cần chú ý tới khả năng phát triển của nguồn hàng này, nhu cầu của khách hàng (thị trường) đối với mặt hàng, cũng như những thế mạnh khác của nó để phát triển trong tương lai. - Nguồn hàng trôi nổi: đây là nguồn hàng trên thị trường mà doanh nghiệp thương mại có thể mua được do các đơn vị tiêu dùng không dùng đến hoặc do các đơn vị kinh doanh thương mại khác bán ra. Đối với nguồn hàng này cần xem xét kỹ chất lượng hàng hóa, giá cả hàng hóa cũng như nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa. Nếu có nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp thương mại cũng có thể thu mua để tăng thêm nguồn hàng cho doanh nghiệp.
Theo nơi sản xuất ra hàng hóa - Nguồn hàng hóa sản xuất trong nước: Nguồn hàng hóa sản xuất trong nước bao gồm tất cả các loại hàng hóa do các doanh nghiệp sản xuất đặt trên lãnh thổ đất nước sản xuất ra được doanh nghiệp thương mại mua vào. Người ta có thể chia nguồn hàng sản xuất trong nước theo ngành sản xuất như: nguồn hàng do các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sản xuất ra (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến,… hoặc công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương, công nghiệp có yếu tố nước ngoài. Nguồn hàng do các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp trung ương, ngư nghiệp sản xuất ra (bao gồm doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, các trang trại và hộ gia đình). Đối với nguồn hàng này, doanh nghiệp cần tìm hiểu khả năng sản xuất, khả năng cung ứng, chất lượng hàng hóa, các điều kiện đặt hàng, địa điểm giao nhận, phương thức và thời gian thanh toán.
để thực hiện ký kết hợp đồng mua bán và giao nhận hàng mua, thanh toán tiền hàng đảm bảo đúng yêu cầu về số lượng, kết cấu, thời gian, địa điểm giao nhận. - Nguồn hàng nhập khẩu: Đối với những hàng hóa trong nước chưa có khả năng sản xuất hoặc được sản xuất trong nước còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng thì phải nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn hàng nhập khẩu có thể có nhiều loại: tự doanh nghiệp thương mại nhập khẩu, doanh nghiệp thương mại nhập khẩu từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chuyên doanh, công ty cấp 1 hoặc công ty mẹ; doanh nghiệp thương mại nhận đại lý hoặc nhận bán hàng trả chậm cho các hãng nước ngoài hoặc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước; doanh nghiệp thương mại nhận từ các liên doanh, liên kết với các hãng nước ngoài. Trong phạm vi quốc gia, người ta chia Downloaded by Quang Quang (khoa31141020806@gmail.com) lOMoARcPSD|15978022 9 theo nguồn đầu tư như hàng nhập từ nguồn ODA, FDI, nguồn viện trợ nhân đạo, nguồn phi chính phủ.
- Nguồn hàng tồn kho: Nguồn hàng tồn kho là nguồn hàng còn lại của kỳ kinh doanh trước hiện còn tồn kho. Nguồn hàng này có thể là nguồn hàng theo kế hoạch dự trữ quốc gia (dự trữ của Chính Phủ) với mục đích điều hòa cung cầu thị trường, nguồn hàng tồn kho của các doanh nghiệp thương mại; nguồn hàng tồn kho ở các doanh nghiệp sản xuất– kinh doanh (nguyên vật liệu, hàng đã sản xuất ra và nhập kho đang nằm chờ tiêu thụ, hàng bán bị trả lại) và các nguồn hàng tồn kho khác.